Vòng Tay Da Cam và Ngôi Sao May Mắn

Hallstatt

Hallstatt

(Tặng những bước chân đơn độc của Sam!)

Vụn vỡ.

Vị ngọt của nụ hôn đầu vẫn lịm trên môi.

Vị đắng của câu chia tay vẫn chát trên môi.

Tôi thu dọn hành lý. Và đi.

1. Tôi đón tàu lửa từ Leeuwarden lên Amsterdam, rồi đáp máy bay sang Vienna. Cuối cùng tôi leo tàu lửa xuống Hallstatt, một ngôi làng cổ kính và trầm mặc của nước Áo. Vùng đất mà mọi tác động của khoa học công nghệ tiên tiến, mọi đổi thay của quá trình siêu hiện đại hóa gần như không chạm vào được. Vùng đất tĩnh tại như một đường chì kẻ đen trên tờ giấy trắng. Vùng đất lý tưởng để tôi ẩn nấp, để tôi xếp đặt gọn gàng cái nội tâm hổ lốn của mình.

Hallstatt tháng Một. Tuyết trắng xóa khắp những mái ngói ống khói, khắp các con phố chạy quanh đồi. Diễm lệ và mơ mộng như bối cảnh trong những câu chuyện cổ tích Andersen.

Vừa quăng hành lý vào căn phòng trọ bé tẹo, tôi bước ngay vào cuộc hành trình. Đi bộ. Đi bộ trên hết thảy những con đường nhỏ chạy vòng các ngọn đồi. Đi bộ càng nhiều càng tốt. Mong cái lạnh có thể đóng băng hết mớ xúc cảm đang bủa vây từng ngóc ngách nội tạng tôi. Mong cái mệt có thể làm bốc hơi những suy nghĩ không đầu không đuôi đang chạy tán loạn trong tất thảy tế bào thần kinh.

Nếu chỉ là một cuộc chia tay, tôi đã chẳng xuống tinh thần đến thế. Nếu chỉ vì một chàng trai, tôi đã chẳng xuống tinh thần đến thế.

Tôi mím chặt môi, hơi chúi người về phía trước, cố nhấc chân cao thêm một tẹo, sải những bước dài trên con đường lên dốc. Mồ hôi túa khắp trán, nhưng bị tiết trời lạnh khô hấp thụ ngay. Tôi ép mình vận động cho đến khi các cơ bắp đều kiệt quệ. Tôi ép mình tập trung vào những sải bước, dồn tất cả những phần năng lượng dù là nhỏ bé nhất trong cơ thể để di chuyển. Mong rằng khi thân thể rã rời, đầu óc tôi có thể tìm được chút thảnh thơi, không còn bị cuốn vào những lời tự vấn bản thân.

Tôi thấm mệt. Tôi mệt. Tôi mệt đến mức chỉ cần thêm một bước chân nữa thôi thì tim sẽ đứng lại mất.

Tôi đứng chôn chân vào tuyết, lắng nghe nhịp tim mình đập chậm lại dần, bình ổn lại dần. Rồi tôi ngồi bệt xuống đất, hai chân co lên làm điểm tựa cho hai cánh tay buông thẳng. Đến bấy giờ, tôi mới đảo mắt quan sát một vòng cái không gian đầy tuyết là tuyết quanh mình. Trắng quá. Trắng như thể tất cả những sắc trắng có trên thế gian đều bị vùng đất này lấy trộm về để tô điểm cho chính bản thân. Trắng như thể mọi màu sắc trong cuộc sống đều đã bị một cục gôm thần kỳ tẩy sạch bách. Trắng như…

“What’s wrong?” (Có chuyện gì không ổn à?)

Giật mình, tôi quay sang nhìn anh chàng lạ hưo lạ hoắc bỗng đâu xuất hiện, đang ngồi xuống cạnh mình. Anh ta đáp cái nhìn sững sờ pha chút nét khó chịu của tôi bằng một nụ cười hiền như bột.

“What’s wrong?” (Có chuyện gì không ổn à?) – Anh chàng lạ mặt hỏi lại lần nữa.

Tôi cười nhạt thay câu trả lời, dán mắt vào gương mặt anh ta để ngắm. Đôi mắt mí lót biết nói, cùng hàng mi cong vút. Đôi lông mày rậm có vài cọng mọc chệch ra ngoài “khuôn hình”. Mũi cao và thẳng. Nụ cười mê hồn. Khuôn mặt nhỏ. Làn da trắng mịn như tuyết. Vài cọng tóc nhuộm vàng trốn ra khỏi chiếc nón lông, phơ phất lòa xòa trước trán. Qua giọng nói tiếng Anh cứng, gượng và tách biệt từng từ, tôi đoán chàng trai này đến từ một nước Đông Á. Nhật Bản, Hàn Quốc, hay phía Bắc Trung Quốc.

“What’s wrong with my face?” (Có điều gì không ổn với mặt tôi à?) – Chàng trai nhấn từng từ, mắt khẽ giương lên, nửa như ngạc nhiên, nửa châm chọc rằng tôi đã bị bắt thóp, đã bị vẻ thiên thần của anh tóm mất hồn phách.

Tôi nhe răng cười, tự dưng thấy lòng dễ chịu. Tôi toan tìm những câu chữ thật súc tích, thật ấn tượng để đáp lời, nhưng tiếc rằng não đã không còn chút năng lượng để bỏ vào công cuộc sản xuất ý tưởng. Tôi đành nói thật.

“Anh thật là đẹp trai.” (1)

“Tôi biết.” – Chàng trai cười rạng rỡ. – “Nhưng tôi cần nhiều hơn chỉ là đẹp trai.” – Anh cắn môi một cái nhẹ, kết thúc câu nói.

“Haizzz…” – Tôi thở dài, cố nhìn anh bằng một vẻ chán ngán. – “Những anh chàng nguy hiểm nhất thế giới là những anh chàng đẹp trai và ý thức được rằng mình đẹp trai.”

“Thú vị đấy. Kể thêm cho tôi nghe nào.”

“Giống như anh. Đẹp trai và biết cách làm cho đám con gái ngã rạp bằng những hành động dễ thương như cắn môi, nháy mắt, hất tóc, vân vân.” – Tôi nói một hơi, trong đầu phảng phất hình ảnh những chàng trai đã tuần tự bắt mất hồn mình từ xưa đến nay.

Anh lắng nghe tôi nói với vẻ thích thú hiện rõ lên từng millimet vuông của gương mặt. Khi tôi quay sang, anh liền nháy mắt với tôi một cái rồi nở một nụ cười còn tươi sáng, mê hoặc hơn cả những nụ cười trước đó. Tôi đập tay vào trán mình, ra vẻ ôi-không. Hai chúng tôi cùng cười lớn.

Hành trình luôn ngắn hơn khi ta có một người bạn đường.

Chúng tôi cuốc bộ thêm vài con đường nhỏ vòng quanh đồi nữa, trước khi ghé vào một tiệm cà phê gỗ xinh xắn nhìn như ngôi nhà của bảy chú lùn trong cổ tích. Ngồi trên hiên ngoài quán cà phê, chúng tôi cùng ủ ủ xoa xoa cốc cà phê sữa nóng ấm giữa hai bàn tay. Trong không gian lạnh giá, cái ấm nồng của cà phê càng thêm quý báu. Trong khung cảnh xa lạ, người ta mới nhận ra sức mạnh tự sưởi ấm bản thân tồn tại ngấm ngầm trong sâu thẳm mỗi người. Trong cô đơn, người ta mới biết trân trọng bản thân mình sâu sắc và toàn vẹn.

Tôi đơn thương độc mã tìm đến cái nơi heo hút ảm đạm này để đối mặt, để học cách hiểu biết tường tận hơn những con người đang nấp sau dung mạo mình.

“Tại sao lại cau mày?” – Anh nhìn tôi bằng ánh mắt quan tâm. – “Tâm trạng này, chắc chắn là em đang thất tình.”

“Ừ đúng, mới thất tình. Được hai ngày rồi.” – Tôi ngoác miệng cười. – “Nhưng tôi có nhiều chuyện còn nghiêm trọng hơn thất tình để lo nghĩ.”

“Có muốn kể tôi nghe không? Một người xa lạ sẽ chẳng biết phải đem chuyện bí mật của em kể cho ai nghe.” – Anh lại nở nụ cười hiền hòa.

“Được, nhưng tốt nhất là anh đừng có cười nữa. Nụ cười của anh làm tim tôi run lẩy bẩy đấy.” – Tôi vờ liếc xéo anh.

Anh mím chặt môi, nặn ra một vẻ mặt nghiêm-túc-cố-tình, một bàn tay đưa lên tai phe phẩy, giả làm bộ dạng của chiếc tai voi. Tôi khẽ cúi đầu, mắt dán vào cốc cà phê trên tay, cố gắng tìm ra câu chữ để tượng hình những khúc mắc trong lòng.

Định hình được cảm xúc trong lòng rất khó. Định hình được những chuyện, những nguyên nhân đã gây nên cảm xúc ấy còn khó hơn. Trong đầu tôi, hình ảnh những ngày vừa qua, những ngày đã qua lâu lắm rồi bắt đầu được tua ngược. Hình ảnh. Hình ảnh…

“Haizzz”

Tiếng thở dài của anh kéo tôi ra khỏi cuộn phim về những ngày mình đã sống. Tôi không nhìn anh, chỉ từ tốn đưa cốc cà phê đã nguội ngắt lên miệng hớp một ngụm. Khi đang lắc lắc cốc cà phê giấy chỉ còn một lớp nước mỏng ở đáy, một tia sáng vụt qua đầu tôi. Và tôi bắt đầu văn vẻ.

“Người khôn ngoan là người biết giữ lại bản thân mình cho chính mình. Tôi từng ảo vọng rằng trên thế gian này sẽ có ít nhất một người, đang tồn tại ở nơi nào đó, để cho tôi dựa vào. Nhưng thật ra nào có ai như thế. Chỉ có chúng ta tự sống những ngày của mình. Tự thổi nến mừng sinh nhật. Tự ngắm tuyết đón Giáng Sinh. Tự thầm thì ‘Happy New Year’. Tự mỉm cười và nói ‘mình thật cừ’ trước những thành công. Ít kỳ vọng, ít hoạch định cuộc sống, ít mơ ước, ít cười, ít khóc. Giữ bản thân như…”

“… Như một tờ giấy trắng.” – Anh kết thúc câu nói của tôi, rồi quay mặt nhìn về phía những mái nhà phủ đầy tuyết.

Tôi khẽ rùng mình. “Như một tờ giấy trắng” – anh đã thốt ra chính xác những con chữ có trong đầu tôi. Nhìn vào mắt anh, tôi thấy một không gian mông lung. Nhìn vào mắt anh, đột nhiên tôi có cảm giác như đang nhìn vào đôi mắt của chính mình.

“Cái cảm giác rằng cuộc sống mình, những chuyện xảy đến với mình đều không đúng. Cái cảm giác chông chênh. Cái cảm giác chỉ muốn được một mình.” – Anh quay sang nhìn tôi, giọng nói ấm áp, mượt mà. – “Chúng ta giống nhau.”

“Vì thế nên anh đã đến gần, phá tan sự tự do đơn độc của tôi?”

“Đúng. Tôi đã quan sát em hồi lâu trước khi đến gần em. Nhìn em, tôi thấy như đang nhìn chính mình. Những bước chân một mình. Những động tác xoa tay, giũ chân, kéo khăn quàng để tự làm ấm mình. Tưởng như đơn độc mà lại không. Là em đang bận rộn trong vùng đất của riêng mình. Là em đang gặp chút bế tắc.”

“Thế mà tôi tưởng anh đến gần vì thấy tôi dễ thương cơ đấy!” – Tôi lườm anh, rồi ngoác miệng cười thật lớn.

Chúng tôi đi tiếp, thả bộ những bước từ tốn và khoan khoái, gần như không nói với nhau thêm câu nào cho đến ánh sáng chỉ còn là những vệt loang lổ trên vài đụn tuyết.

Khi chúng tôi đang đi qua một cây cầu, anh bỗng dừng lại, chỉ tay lên trời về phía một ngôi sao mờ nhạt đang ẩn hiện. Anh mỉm cười, mặt có nét mãn nguyện, giống như vừa chiến thắng trong trò cá cược với bản thân: nếu hôm nay anh thấy được một ngôi sao thì tương lai sẽ được rực rỡ.

“Chỉ là một ngôi sao yếu ớt thôi, có gì mà hay?” – Tôi kéo dài giọng.

Anh không nói gì, bước ra sau lưng tôi và đưa tay bịp mắt tôi lại.

“Một màu đen, đúng không?” – Giọng anh đầy tự tin và sức mạnh.

“Và mùi thơm của tay anh. Anh xài loại kem dưỡng nào vậy?”

“Nghiêm túc nào!”

“Okay. Một màu đen, sao nữa?”

“Thà rằng nhìn thấy một ngôi sao mờ nhạt để đi theo, còn hơn việc phía trước mình là một khoảng không tối tăm, phải không cô bé?”

“Tôi chẳng biết cái ngành học mình đang theo đuổi có phải là thứ tôi muốn bỏ hết tim gan và tâm trí vào hay không. Tôi chẳng biết vì sao chàng trai tôi đặt hy vọng vào lại chọn cách ra đi, chỉ vì anh ta cảm thấy không đúng khi bên tôi. Tôi không chắc chắn về bất cứ mẩu nào trong cuộc sống, thì làm sao nhìn thấy ngôi sao?” – Tôi tuôn một tràng. Tự dưng, tôi thấy mắt mình ươn ướt. Tự dưng, tôi thấy mình yếu đuối và nhỏ bé.

“Bình tĩnh. Đừng khóc ra tay tôi nhé.” – Giọng anh có vẻ là đang cười cười.

“Yên tâm, tôi sẽ không. Nhưng anh nào có hơn gì tôi để mà khuyên giải. Chẳng phải anh cũng tìm đến cái chốn âm u này vì bế tắc sao?”

“Nói về chuyện của người khác thì luôn dễ dàng mà!” – Anh buông tay khỏi mắt tôi.

Tôi đứng yên một lát để cơn dâng trào cảm xúc bất chợt được lắng xuống. Đến khi tôi quay lại nhìn thì anh đã bước xa tôi gần chục mét. Tôi nhìn theo…

“Hey!” – Bỗng dưng, chẳng biết vì lẽ gì mà tôi gọi với theo anh.

Anh đứng lại. Tôi bước từng bước ngắn đến chỗ anh. Theo những bước chân tôi, hàng tá câu hỏi dồn dập dội vang vào não: “Mình đang làm cái quái gì đây? Gọi anh ta lại để làm gì? Nói gì đây? Hỏi tên? Cả đời mình chắc sẽ chẳng gặp lại anh, biết tên mà làm gì? Cứ tạm biệt như vậy có phải hay hơn không? Hay là giờ cứ phẩy tay bảo anh đi tiếp?…”

Tôi chưa biết nên làm thế nào thì đã bước đến trước mặt anh. Tôi hít một hơi mạnh, ngấng đầu, nhìn sâu vào mắt anh. Làn mắt ấy rất nồng nàn.

“Anh đã biết hết chuyện của tôi, còn tôi lại chẳng biết tí ti gì về chuyện của anh. Như thế là không công bằng!” – Tôi nói bừa thứ đầu tiên hiện ra trong đầu mình, tránh cho bản thân bị xoáy sâu vào đôi mắt ma mị của anh mà trở thành mất tri giác.

“Tôi đến đây, một nơi thật xa, là để tĩnh tâm lại mà phân tích. Anh ta…” – Anh hít một hơi dài, rồi nói dồn dập. – “Anh ta không có gì nổi bật hơn tôi. Thậm chí, tôi còn đẹp trai hơn, tài năng hơn, thế nhưng cơ hội cuối cùng lại thuộc về anh ta. Bởi vì… Tôi không biết bởi vì sao nữa. Có rất nhiều chuyện không đúng.”

“Nếu tôi có cơ hội chạy theo điều mình muốn…” – Tôi nói chậm để tìm những từ ngữ văn vẻ nhất, dù sao tôi cũng đang cố gắng làm dịu tâm trạng cho anh mà. – “… dù cơ hội ấy nhỏ bé, dù tôi phải van xin, phải hạ mình, tôi vẫn sẽ quyết tâm giành cho được thứ mình muốn.”

“Nói về chuyện của người khác thì luôn dễ dàng mà!” – Anh nháy mắt với tôi.

“Ừ!”

Bất giác, tôi sờ lên cổ tay mình và gỡ chiếc vòng trên ấy ra. Chiếc vòng đan bằng sợi len màu da cam có gắn một ngôi sao nhỏ bằng vàng. Thứ duy nhất trên người tôi lúc ấy mà gỡ ra sẽ không làm cơ thể bị lạnh. Nhẹ nhàng, tôi đặt chiếc vòng vào tay anh và mỉm cười. Anh nhìn tôi cười lại, khoe hàm răng trắng sáng, đều đặn. Nụ cười có quyền năng rút mất linh hồn của người đối diện. Anh đưa tay lên, cấu nhẹ vào má tôi, có ý kéo nụ cười của tôi rộng ra:

“Cười tươi lên, đời đẹp lắm!”

Rồi anh quay lưng bước đi.

2. 762 ngày sau.

Ngày đầu tiên của tuần thứ hai trong đợt thực tập tại một khách sạn sáu sao ở Hong Kong.

Tôi hé mắt tỉnh giấc trước năm giờ sáng vài phút, nằm vùi trong chăn ngắm một phần thành phố ngoài cửa sổ, chờ Mặt trời lên trên vịnh Nước Cạn.

Những hình ảnh của giấc mơ đêm qua vẫn thấp thoáng lả lướt trong đầu tôi. Nụ cười rực rỡ như ánh mai, đôi mắt lấp lánh như ánh sao của chàng trai lạ mặt. Cuộc gặp gỡ của chúng tôi vào một ngày dày tuyết ở Hallstatt là có thật, hay chỉ vì giấc mơ đã lặp đi lặp lại quá nhiều lần nên tôi mơ hồ rằng đấy là thật? Hơn hai năm trước quả thật tôi đã trốn đến Hallstatt để sắp xếp lại bản thân trong những ngày xuống dốc của cuộc đời. Nhưng những chuyện xảy ra ở đấy, ngoài việc một mình gặm nhấm nỗi trống trải vô ngần và những cơn mệt mỏi quặn lòng, tôi chẳng thể mạch lạc điều gì cả. Chỉ biết sau khi trở về Hà Lan từ chuyến đi ấy, cuộc sống của tôi đã sảng khoái hơn. Chẳng phải vì các sự kiện xảy đến sau này đều theo thứ tự ngăn nắp, hay vì may mắn tuôn xối xả vào cuộc đời tôi. Mà bởi tôi đã học được cách đối mặt cùng một nụ cười.

Chàng trai ấy, liệu có phải là một thiên thần được phái xuống để nâng đỡ tôi? Một thiên thần?! Cũng có thể lắm, anh đẹp đẽ như thể đã hấp thụ hết tinh túy của đất trời vào mình cơ mà. Một thiên thần.

Đúng năm giờ sáng, chiếc đồng hồ báo thức nhảy múa inh ỏi. Tôi với tay đập nó một cú rồi tung chăn ngồi dậy. Tôi nhắm mắt vài giây, dồn sức tẩy hình ảnh anh thiên thần diễm lệ ra khỏi tâm trí. Một ngày mới đã bắt đầu, phải cất cơn mơ đi thôi.

Đứng chải đầu bên cửa sổ, tôi khoan khoái ngắm những tia nắng non nhảy múa đằng chân trời. Có ngắm Mặt trời lên và xuống mỗi ngày, có tận mắt nhìn thiên nhiên xoay chuyển quanh mình mới nhận thức rành mạch được sự nhỏ bé của mỗi con người. Chỉ là hạt cát trong vũ trụ. Hạt cát mà vẫn sống, vẫn hiên ngang tồn tại giữa bao la sự vật khổng lồ vây quanh. Thế mới biết cuộc sống mãnh liệt. Thế mới biết cuộc sống thần kỳ.

Trước khi rời nhà, tôi dừng lại ba giây trước gương, cười thật tươi với chính mình – Thảo Nguyên, sinh viên năm cuối ngành Du lịch Khách sạn – rồi vớ lấy chiếc túi xách, ù té rời phòng. Một ngày mới chính thức khởi hành.

Đúng 5:45 sáng, tôi bước vào khách sạn bằng lối cửa dành cho nhân viên. Đang trên đường đến phòng thay đồ, tiếng ồn vọng ra từ đại sảnh kích thích cơn tò mò, buộc tôi chuyển hướng bước về phía đại sảnh. Ngợp hết tầm mắt tôi nào là hoa, là băng rôn, là biểu ngữ, là hình phóng lớn của một ngôi sao thần tượng nào đó. Có cô gái tuổi teen ôm con gấu bông trắng to vĩ đại choán gần hết phía trước thân người. Có người lân la đến chỗ bảo vệ, tiếp tân nằn nì chuyện gì đó. Tôi thích thú: “Thì ra chuyện fan bám trụ ở khách sạn để trông tận mặt thần tượng là thật. Thế mà trước nay mình lại tưởng chỉ là một chiêu dàn xếp PR”.

Tôi dừng chân ở mép ngoài đại sảnh chừng một phút, rồi bước nhanh đến phòng thay đồ dành cho nhân viên thực tập. Luôn luôn đến sớm hơn giờ quy định. Luôn luôn nhận việc với một nụ cười. Luôn luôn hoàn thành công việc với một nụ cười. Luôn luôn… với một nụ cười.

Khi tôi đang cài những chiếc khuyu cuối cùng của bộ đồng phục, chị quản lý bước đến:

“Thảo Nguyên, hôm nay trong danh sách phòng dọn của em có phòng của một trong những ngôi sao hạng A châu Á. Anh này nổi tiếng khó tính, em phải hết sức chú ý. Nguyên tắc vàng của nghề chúng ta là phải bảo mật thông tin riêng tư của khách. Bất cứ giá nào cũng không được để lọt số phòng của anh này cho đám fan ngoài kia. Okay?”

“Yes, madam!” – Tôi mỉm cười đầy tự tin, tay giơ lên ngang trán theo kiểu chào trong quân đội.

Chị quản lý gật nhẹ đầu, nhìn tôi khích lệ rồi bước khỏi phòng. Cánh cửa phòng sập lại, tôi liền thở phào một cái, người thuỗn ra. Bấy giờ, tôi mới cảm thấy dạ mình co lại. Đây mới là ngày thứ bảy trong cuộc đời làm hotelier, mà tôi đã được giao trọng trách phục vụ cho khách VIP. Dù chỉ là dọn phòng, nhưng dọn phòng cho VIP thì tâm trạng cũng khác. Vừa thích (cảm giác từa tựa được lên chức), vừa sợ. Nếu kỹ năng của tôi không đủ tốt. Nếu tôi vì cảnh giác thái quá mà quên trước quên sau. Nếu…

Tôi cắn mạnh môi một cái, dùng cái đau xua đi nỗi lo lắng vô duyên. – “Sợ quái gì?! Dồn 100% trái tim và sức lực vào việc dọn phòng cho anh ngôi sao kia là suôn sẻ ngay thôi mà.” – Nghĩ thế, tôi thở nhẹ ra một cái, mỉm cười với những nhân viên thực tập khác vừa bước vào phòng.

Phòng của anh ngôi sao châu Á kia là căn phòng thứ ba trong danh sách phòng dọn của tôi. Phòng Tổng Thống.

Vừa đẩy cửa bước vào, tim tôi liền co rút lại trước không gian tráng lệ bên trong. Chùm đèn pha lê tinh xảo nằm cao quý trên trần, ngay chính giữa phòng khách, phủ khắp không gian một luồng ánh sáng mịn màng. Những tấm rèm cửa sổ bằng lụa trắng Nhật Bản, mà giá mỗi cái bằng cả năm lương thực tập của tôi. Chiếc bàn gỗ chạm trổ theo phong cách châu Âu cổ điển có giá bằng một năm học phí và ăn ở của tôi tại Hà Lan. Trong phòng ngủ, chiếc giường rộng như một cái hồ bơi cỡ nhỏ có giá… tôi chẳng biết mình đã từng có phúc sử dụng số tiền nào giá trị hơn chiếc giường ấy chưa. Đặc biệt, từng phân tử không khí còn được nhuộm một mùi hương cam pha hạnh nhân rất nhẹ nhàng, rất dễ chịu.

Trong lúc chị nhân viên phục vụ chính thức của khách sạn đang dọn dẹp phòng tắm, tôi bày bố lại chăn nệm trên giường. Trên chiếc gối nhung màu ngà có một sợi tóc nhuộm màu nâu sậm, dài khoảng một gang tay. Tôi nhíu mày, một ý nghĩ hay ho xoẹt qua: “Chắc chắn là tóc của anh ngôi sao kia rồi. Mình bán nó cho đám fan cuồng dưới kia hẳn cũng được một vé đi Disneyland.”

Đang thích thú với ý nghĩ nhãn tiền, mắt tôi đột nhiên lướt ngang tủ đầu giường, rồi bấu chặt vào chiếc vòng đang nằm trên ấy: chiếc vòng đan bằng sợi len màu da cam có gắn một ngôi sao nhỏ bằng vàng. Tôi mím môi, bước đến cầm chiếc vòng lên.

Hai ngón tay tôi vân vê ngôi sao bằng vàng nhỏ xíu đính trên chiếc vòng. Không thể nhầm được, chiếc vòng này đích thị là của tôi. Đã từng là của tôi. Tôi mua nó tại một hội chợ bán đồ cũ ở Amsterdam và thường xuyên đeo trong một thời gian dài. Sau chuyến đi Hallstatt, chiếc vòng không còn nữa. Trong mơ, tôi thấy mình đã nhét nó vào tay vị thiên thần đẹp trai. Còn đời thật, có lẽ tôi đã đánh rơi nó xuống một đụn tuyết nào đó ở Hallstatt.

“That is my band.” (Đó là chiếc vòng của tôi.) – Một giọng tiếng Anh cứng, gượng và tách biệt từng từ đột nhiên cất lên.

Bị bất ngờ, toàn thân tôi cứng lại. Mất vài giây sau, cổ tôi mới có thể rệu rã quay sang nơi giọng nói vừa vang lên…

Trước mặt tôi là một chàng trai đẹp như châu ngọc. Đôi mắt hai mí sáng lấp lánh, hàng mi cong và ánh mắt lạnh. Đôi lông mày rậm, hơi hơi chếch, càng nhấn mạnh vẻ nam tính mạnh mẽ. Mũi cao và thẳng. Đôi môi trái tim với khóe môi kiên nghị vô cùng gợi cảm. Khuôn mặt nhỏ. Làn da sáng mịn. Mái tóc nhuộm màu nâu sẫm, cắt cao và được chải chuốt kỹ lưỡng.

“I… it’s… room service, sir.” (Tôi… đây là… phục vụ phòng, thưa ông.) – Tôi lắp bắp, không phải vì vẻ điển trai của chàng trai trước mặt, mà vì cái lý trí ngủ mơ lúc này mới chịu hoạt động: “Anh ta chắc chắn là ngôi sao khó tính ngủ đêm trong phòng này. Và mi vừa bị bắt quả tang đụng vào vật dụng riêng của anh ta. Chết rồi!”

“Give it to me!” (Đưa nó cho tôi!) – Giọng anh ngôi sao lạnh lùng, tay chìa ra phía trước, ánh mắt chuyển nhanh từ khuôn mặt tôi xuống chiếc vòng trong tay tôi.

Tôi nhích đến gần anh ngôi sao. Ngay lúc tay tôi chuẩn bị đưa chiếc vòng ra, đột nhiên tôi nhìn thẳng vào mặt anh. Một giây. Rồi tôi nhìn xuống chiếc vòng trong tay mình. Một giây. Tôi mở miệng chưa kịp nói thì anh đã gỡ chiếc vòng trong tay tôi ra, đeo vào cổ tay mình.

“Đó là vòng tay của tôi.” (2) – Tôi nói nhanh, trong lúc nhìn anh kết thúc việc cài khóa chiếc vòng.

Anh nhìn tôi với một vẻ nghi hoặc, ánh mắt nửa sững sỡ, nửa như thẩm định độ thật giả của một món đồ. Bỗng tất cả cơ mặt của anh giãn ra, nét lạnh lùng trong đôi mắt lập tức bay biến. Anh cười, một nụ cười rạng rỡ và thật thà, rồi hơi cúi người, đặt hai tay lên hai vai tôi.

“Cô bé, em đổi nhiều quá. Kiểu tóc khác.” – Mắt anh nhìn tôi một lượt từ đầu đến chân. – “Nhưng hình dáng thì vẫn nhỏ bé như học sinh trung học.”

Nhìn dáng vẻ ngỡ ngàng bất động của tôi, những tia thích thú hiện lên ăm ắp trong mắt anh. Anh chìa cổ tay đang đeo chiếc vòng cam ra trước mặt tôi:

“Chờ nhé, sau mười một giờ đêm anh sẽ về đến. Gõ cửa phòng anh, sau đó chúng ta sẽ nói thật nhiều.” – Anh đưa chiếc vòng lên môi, hôn nhẹ vào ngôi sao một cái – Cái này quả thật đem đến rất nhiều may mắn.

Anh tan biến nhanh như khi anh đến. Tôi đứng lặng bên chiếc giường ngổn ngang, nghe tiếng tim mình đập thình thịch.

“Có ai vừa ở trong này à?” – Tiếng chị cùng dọn phòng vang lên nơi cửa phòng tắm.

“À không!” – Bấy giờ, tôi mới cảm nhận được chân mình vẫn đang tiếp đất. – “Một giấc mơ thôi, không có gì đâu chị.”

3. Mười hai giờ đồng hồ sau.

Tôi đi đi lại lại trong phòng thay đồ của nhân viên. Đã hết ca, đã thay ra bộ đồng phục, đáng ra tôi nên phóng nhanh về nhà, hoặc tạt ngang qua phố ăn đêm mà sì sụp một tô mì hoành thánh rồi mới phải.

Chuyện xảy ra trong phòng Tổng Thống, phải chăng chỉ là ảo ảnh? Tôi cúi xuống nhìn vai mình. Cảm giác mừng rỡ từ cái bấu vai hội ngộ của chàng trai xinh đẹp như châu ngọc vẫn còn váng vất trên đôi vai tôi. Nụ cười rực rỡ như ánh mai, đôi mắt lấp lánh như ánh sao ấy đã rất gần, rất gần tôi. Cảm giác quen nhiều hơn lạ. Cảm giác thực nhiều hơn hư.

“Mình đâu có thiếu ngủ mà phải mơ giữa ban ngày?” – Tôi vỗ mạnh vào đầu một cái và oai dũng rời phòng thay đồ.

Tôi đi thang máy lên tầng thứ hai mươi lăm, rồi chui vào lối thang bộ thoát hiểm leo thêm mười tầng nữa. Để trốn bảo vệ thì ít, mà để sỉ vả cái hành động bồng bột mình đang thực hiện thì nhiều: Tôi đang lên phòng anh – vị thiên thần ở Hallstatt năm xưa, ngôi sao hạng A châu Á bây giờ – mà không biết mình phải nói gì, phải hành xử như thế nào. Biết đâu lời ban sáng của anh chỉ là thành phẩm của những cảm xúc phấn khích nhất thời? Biết đâu vì việc này mà tôi mất chỗ thực tập? Tôi phải đi đâu về đâu? Phải làm thế nào hoàn thành chương trình học, đem tấm bằng về khoe bố mẹ? Càng nghĩ, tôi càng thấy mình đang đi về phía tăm tối.

Đứng trước cửa phòng anh, tay tôi bấu vào chiếc quai túi vắt ngang người, miệng lầm bầm: “Gõ cửa ba cái. Chờ một phút. Nếu anh ấy không mở cửa thì mình về. Xem như chưa từng gặp gỡ. Xem như là một giấc mơ.”

Cộc. Cộc. Cộc.

Một. Hai. Ba. … Mười. Mười một. … Hai mươi hai, hai mươi ba.

“Vào nhanh nào!” – Anh mở cửa với nét mặt hớn hở, nắm lấy tay tôi kéo vào phòng.

Trên giường anh ngổn ngang quần áo. Tôi ngồi đại xuống chiếc sô-pha giữa phòng, nhìn anh đứng ngắm vuốt trước gương. Anh mặc chiếc quần jean loang lổ đen đen trắng trắng, áo sơmi trắng cổ bèo bên trong, áo len nâu điểm vài sợi len kim tuyến óng ánh bên ngoài. Anh đang quấn đi quấn lại một chiếc khăn quàng màu trắng quanh cổ, mà mãi vẫn không ưng ý với bất kỳ kiểu nào. Cuối cùng, anh quấn đại cái khăn thành hai vòng quanh cổ, trùm một chiếc mũ len màu đen lên đầu để che hết tóc và đeo vào chiếc kính gọng nâu tròng trắng to choán nửa khuôn mặt.

Nhìn quần áo anh thì không giống một ngôi sao. Nhưng cái thần thái, cái ma lực cuốn hút người đối diện vẫn tỏa ra lóng lánh quanh thân người. Bấy giờ tôi mới thấm thía sâu đậm cái gọi là tố chất của một ngôi sao.

“Nhận ra anh không?” – Sau vài giây ngắm mình trong gương bằng đôi mắt thỏa mãn, anh quay sang tôi hỏi với nụ cười tươi rói của một đứa trẻ vừa thắng trò chơi trốn tìm.

“Ra. Mà làm gì?” – Tôi chẳng hiểu anh đang ám chỉ mô tê gì cả.

“Cải trang ra phố chơi. Đi ăn vặt mà bị nhận ra thì phiền lắm.” – Anh quay lại nhìn mình trong gương, vừa nói vừa dùng ngón tay nhẹ nhàng nhét những sợi tóc còn chìa ra ngoài vào trong chiếc mũ len.

“Anh có cải trang kiểu gì cũng thất bại. Mặt bằng chung của đám đàn ông con trai còn lang thang ngoài phố giờ này không đẹp. Tự dưng anh xuất hiện thì chắc chắn sẽ bị nhìn. Mà chỉ cần nhìn kỹ một chút thì con nít cũng nhận ra. Anh nổi tiếng quá mà, áp phích quảng cáo treo đầy đường.” – Tôi nói liền một hơi, lòng cảm thấy thoải mái mà chẳng biết lý do là gì.

Anh hướng ánh mắt buồn bã về phía tôi, rồi đập nhẹ trán vào gương, làm ra bộ dạng đau khổ. Thấy tôi phì cười, anh cũng cười, rồi gỡ mũ và kính ném xuống giường.

Anh đến đối diện tôi, ngồi lên chiếc bàn gỗ đặt trước sô-pha. Anh quan sát tôi kỹ và lâu như thể đang đếm xem trên mặt tôi có bao nhiêu lông tơ. Chẳng hiểu sao tôi lại không thấy ngượng, ánh mắt cứ ngang bướng nhìn thẳng vào anh. Trò cân mắt kéo dài mấy phút. Rồi cả hai chúng tôi cùng cười phá ra.

“Anh không thể ngờ mình có thể gặp lại em. Không thể ngờ! Thậm chí từng muốn tìm em mà chẳng có manh mối nào.” – Giọng anh hồ hởi và thật thà. Nụ cười anh chói sáng. Ánh mắt anh nheo lại, con ngươi lấp lánh.

“Tìm em làm gì?”

“Để chắc rằng chuyện xảy ra ở Hallstatt không phải là một giấc mơ.”

“Giờ chúng ta làm gì đây? Không ra ngoài ăn được rồi.” – Tôi cố ý đổi chủ đề trước khi đôi má mình biến thành hai quả gấc.

“Không biết nữa. Làm gì đây?” – Anh khẽ cắn môi, mắt nheo lại như đang suy tính một việc gì to tát lắm. – “Có ý này…”

Nói chưa dứt câu, anh đã đứng lên đi đến chỗ quầy bar trong phòng. Sau một hồi lục cục, anh đem ra hai cốc cà phê nóng thơm lừng.

Chúng tôi ôm cốc cà phê đến bên cửa sổ, ngồi bệt xuống sàn, bên cạnh là một rổ bánh quy. Hương cà phê thơm cháy mũi quyện cùng hương cam phảng phất trong không khí khiến đầu óc tôi muốn lịm đi. Cứ như đang phiêu bồng trong một giấc mơ. Tôi lén liếc sang nhìn anh, để chắc rằng anh vẫn ngồi đó – bên cạnh tôi và đang hít hà cốc cà phê của mình. Anh quay sang bắt trọn ánh mắt tôi:

“Bị choáng bởi vẻ đẹp của anh à?” – Giọng anh hí hửng.

“Không biết.” – Tôi nghe giọng mình cứ phất phơ, như lời thoại của các nhân vật trong cõi mộng. – “Em chỉ nghĩ, nếu em chịu chú ý đến sự tình xung quanh một chút thì đã biết anh là ai từ lâu rồi, không cần phải vừa hốt hoảng, vừa ngỡ ngàng như lúc ban sáng.”

“Hốt hoảng?”

“Ừ. Nghe thiên hạ đồn đại rằng anh khó tính lắm. Nếu lỡ bị đuổi việc thì em chẳng biết nên làm thế nào.”

Anh cười lớn. Đưa tay lên nửa xoa nửa vò phần tóc mái của tôi, biến nó thành rối bù. Tôi hứ nhẹ một tiếng, miệng nở ra một nụ cười ngọt như mía. Không khí thân mật và ấm áp như anh trai em gái.

“Thế làm sao mà anh nổi tiếng?” – Tôi vừa hớp cà phê, vừa giương đôi mắt to tròn lên nhìn anh.

“Còn nhớ anh chàng mà anh đã quăng ra những lời tị nạnh chứ?”

“Ư hử!” – Tôi gật gật đầu, môi mím chặt vào mép cốc cà phê, mũi không dứt ra được khỏi làn hương thoang thoảng mà đê mê cùng tận.

“Anh ta gặp tai nạn, anh xin đạo diễn cho thử vai thế chỗ. Anh được chọn. Sau đó thì thành công nối tiếp thành công. Và cuối cùng anh có ngày hôm nay.” – Giọng anh tự hào không giấu diếm. Ánh mắt anh mơ màng hồi tưởng lại những giờ phút huy hoàng mình từng nếm trải.

“Ư hử!” – Có một luồng khí rất mát mẻ, rất dễ chịu quét qua quét lại trong ruột gan tôi. Anh đã làm giống như những lời khuyên sáo rỗng của tôi trước lúc chia tay năm xưa. Thật không ngờ những lời nhất thời tôi nghĩ ra lại có thể giúp đỡ, có thể giúp chuyển hướng cuộc đời một con người. Cái cảm giác làm được việc tốt thật thích.

“Ư hử!” – Anh nhại giọng tôi, ánh mắt trách móc vì tôi đã tỏ ra không mấy nồng nhiệt với câu chuyện của anh.

“Ư hử!” – Tôi quay sang anh với nét mặt châm biếm.

Chúng tôi rơi vào yên lặng một lúc lâu. Tận hưởng cà phê đêm. Tận hưởng không gian ấm áp thân thiện đang bao bọc quanh mình.

“Em thế nào rồi? Đã tìm thấy cảm giác chắc chắn trong cuộc sống của mình chưa?” – Anh hỏi, mắt mông lung đuổi bắt bóng đêm đang rảo bước ngoài cửa sổ.

Tôi khẽ lắc lắc đầu. – “Em đến Hong Kong để thực tập trước khi tốt nghiệp. Sớm thôi, em sẽ thành một hotelier. Nhưng những lúc có thời gian để rọi thẳng vào cuộc đời mình, em lại không chắc là mình đang đi đúng, làm đúng.” – Tôi hớp một ngụm cà phê. – “Em không tập trung. Em vẫn muốn làm cái này một tí, học cái kia một tẹo. Em không chắc là mình có thể toàn tâm toàn ý để theo đuổi con đường của một hotelier. Em muốn viết. Em muốn lên các kế hoạch. Em muốn di chuyển. Nhiều nhiều lắm.”

“Tại sao lại phải gò bản thân vào chỉ một việc?”

Tôi nhìn anh. Anh nhìn bầu trời đêm đen kịt ngoài cửa sổ. Tôi quay sang nhìn vào làn nước cà phê nâu sẫm trong cốc mình. Có cái gì đó… Có tiếng leng keng đang kêu nho nhỏ trong lòng tôi. Có một ánh sáng vừa lóe lên đâu đó trong tâm trí tôi.

“Một số người chỉ có một và chỉ một mục tiêu trong cuộc sống. Một số người có nhiều hơn một mục tiêu.” – Anh nhẩn nha từng chữ, giống một con rồng đang nhả ra từng hạt ngọc, giống một người đang chia sẻ với người khác những tinh hoa được chắt lọc từ chính cuộc sống của mình. – “Nếu em có nhiều và có đủ khả năng thực hiện hết, thì cớ gì em lại bắt mình chọn? Cớ gì em lại kìm hãm bản thân?”

Tôi chẳng biết nên nói gì. Có chút vui mừng nhẹ nhàng lan tỏa. Cũng có chút tủi thân len lén dâng trong lòng. Cùng một cuộc gặp gỡ, rồi sau đó mỗi người xuôi theo mỗi hướng. Cả hai đều đổi khác ít nhiều. Nhưng anh thành công, anh có trong tay tất cả những thứ mà anh vươn tới. Còn tôi, tôi vẫn vẫy vùng, vẫn thấy nhiều thứ quá xa tầm với, vẫn thấy bản thân không đủ sức. Vẫn thấy phân vân. Vẫn thấy nghi ngờ.

“Cố lên cô gái!” – Tay anh bấu mạnh vào một bên vai tôi, nhưng lại chẳng gây đau. Anh nhìn tôi bằng ánh mắt mạnh mẽ đầy cổ vũ. – “Cứ bước đi và hái những ngôi sao mà em muốn. Đừng ngại thất bại. May mắn sẽ đến với người nào tìm nó không mệt mỏi. Và khi may mắn đến, nó sẽ đến như mua sỉ.”

“May mắn chẳng quyết định gì cả. Chính anh mới là người quyết định những bước đi đúng để được là anh ngày hôm nay. Mà…” – Tôi nhìn kỹ gương mặt anh, thoáng ngập ngừng. – “…anh đã… Ngày xưa mắt anh có hơi khác so với bây giờ.”

“Ừ, anh cắt mắt thành hai mí. Một trong những bước đi đúng.” – Anh chớp mắt liên hồi, có ý trêu tôi. – “Anh đã làm thì phải luôn hoàn hảo.”

“Trả cho em cái vòng được không? Anh đã nhận đủ may mắn từ nó rồi, giờ đến phiên em.” – Tôi chớp mắt theo một cách dễ thương nhất có thể, tay chỉ chỉ vào vòng da cam trên cổ tay anh.

“Em không tin vào may mắn cơ mà?” – Anh nói, lấy bàn tay còn lại chụp quanh chiếc vòng trên cổ tay mình, như sợ bị tôi cướp mất.

“Trả đây!” – Tôi lên giọng cáu bẳn của một đứa con nít đang đòi bạn trả lại món đồ chơi ưa thích.

“Nó là bùa may mắn của anh thì làm sao cho đi được chứ? Thế này nhé …” – Anh vừa nói, vừa rứt ngôi sao nhỏ ra khỏi chiếc vòng, rồi chìa nó về phía tôi. – “Của em, vì em vẫn chưa tìm ra được ngôi sao cho chính mình. Còn anh giữ chiếc vòng may mắn.”

Tôi đón nhanh lấy ngôi sao như sợ anh đổi ý. Đặt nó vào giữa lòng bàn tay, tôi ngắm nghía một hồi rồi nắm tay lại. Tôi mím môi và đứng bật dậy. Đã đến lúc tạm biệt rồi.

Cửa phòng chỉ còn cách tôi ba bước chân. Anh không gọi tôi lại. Tôi nhắm chặt mắt và xoay người. Tôi mở mắt và chạy ù về phía anh. Tôi cúi xuống, đặt lên má anh một nụ hôn.

Tôi buông môi khỏi làn da mịn màng nơi gò má anh. Anh ngồi. Tôi đứng và cúi sát xuống. Mắt chúng tôi cách nhau chỉ tầm năm cm.

“Đừng bao giờ giữ mình như một tờ giấy trắng. Giấy làm ra là để được viết lên, cô bé ạ!” – Anh nhìn sâu vào mắt tôi, nói cùng một nụ cười hiền như bột. Giống hệt nụ cười đầu tiên của anh mà tôi nhìn thấy ở Hallstatt hơn hai năm về trước.

Tôi không nói không rằng, đứng thẳng dậy bước nhanh ra khỏi phòng. Anh nói với theo sau lưng: “Lần sau gặp lại, hãy trả ngôi sao về với chiếc vòng nhé!”. Tôi chẳng đáp lời anh, vẫn chăm chăm mở cửa bước ra. Cánh cửa vừa sập lại, môi tôi mấp máy: “Một dịp nào đó…”

– PLOY –

Chú thích:

(1) & (2): Bắt đầu từ đây, hội thoại sẽ theo tiếng Việt cho bạn dễ theo dõi.

Leave a Reply

Your email address will not be published.

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.