Trái đất có còn đủ chỗ cho chúng ta?

CỨ 1 TRÊN 3 NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC UỐNG NƯỚC SẠCH

Nước là tài nguyên được sử dụng nhiều nhất trên thế giới. Diện tích nước chiếm tới khoảng 70% bề mặt trái đất, tuy nhiên chỉ có khoảng 2% là nước phù hợp cho con người sử dụng. Vậy nhưng lượng nước sạch lại phân chia không đều, không phải ai cũng có đủ nước sạch để uống.

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) vào năm 2019, có khoảng 2 tỷ người trên thế giới buộc phải uống nước từ nguồn bị nhiễm phân. Ước tính hàng năm có khoảng 485 ngàn người chết vì tiêu chảy do uống nước nhiễm khuẩn. Thậm chí đáng báo động hơn, WHO còn dự đoán rằng vào năm 2025 khoảng một nửa dân số toàn cầu sẽ sống trong các khu vực có vấn đề về nguồn cung cấp nước.

Biến đổi khí hậu cũng ảnh hưởng mạnh đến sự phân bổ nước. Nhiều khu vực xưa nay vẫn phụ thuộc vào lượng nước mưa dự trữ, nay lại phải hứng chịu hạn hán, nắng nóng kéo dài, làm cho nguồn nước cung cấp từ thiên nhiên trở nên khan hiếm. Ngược lại, có nơi lại bị lũ lụt thiên tai, lũ quét làm phá hủy hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo trong khu vực.

RỪNG MẤT RỒI, KHÍ ĐÂU MÀ THỞ?

Vì dân đông nên con người đã và đang phải đốn bỏ nhiều diện tích rừng để trồng trọt nhằm đảm bảo nguồn cung cấp thực phẩm. Xã hội phát triển, các thành phố lớn mọc ra cũng khiến cho các cánh rừng tự nhiên bị thay thế bởi rừng cao ốc. Khai thác khoáng sản, dầu và các tài nguyên khác cũng dẫn đến phá rừng. 

Mất rừng, chúng ta mất đi “anh hùng” tuyến đầu trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Khi các khu rừng rậm phát triển mạnh, chúng giúp điều hoà hàng tỷ tấn CO2 từ không khí, tạo ra một môi trường dễ chịu và bền vững cho muôn loài sinh sôi nảy nở. 

Mất rừng, chúng ta đánh mất tấm lá chắn tự nhiên giúp phòng hộ trước những cơn lũ quét. Bao nhiêu cảnh đời thương tâm mùa lũ hàng năm có thể đã không xảy ra nếu như trước đó những đồng loại của họ đã không phá rừng bừa bãi. Lũ quét gây xói mòn, sạt lở đất, kéo theo đó là làm giảm đi chất và lượng của đất canh tác nông nghiệp. Đất không còn trồng trọt được nữa thì con người vì lại tiếp tục đi phá rừng khác để làm nương rẫy – một vòng luẩn quẩn bi thương…  

VIRUS VÀ VI KHUẨN CỔ ĐẠI SỐNG DẬY?

Trong 100 năm qua, xu thế ấm lên của trái đất ngày càng rõ nét. Trái đất nóng lên sẽ làm cho nắng nóng hạn hán kéo dài, không khí bẩn hơn, phá hủy môi trường sống tự nhiên của nhiều loài, băng tan khiến nước biển dâng cao làm tăng nguy cơ nhấn chìm các quốc đảo và thành phố cận biển. 

Khi trái đất ấm lên, băng ở Nam Cực và Bắc Cực tan ra. Khi băng vĩnh cửu bị tan chảy, lớp carbon bị băng bao giữ suốt nhiều thế kỷ bắt đầu bị các vi khuẩn phân giải và giải phóng ra CO2 hoặc methane. Lượng CO2 này có thể lên tới 130-150 tỷ tấn và sẽ tham gia vào quá trình tuần hoàn CO2 trên Trái Đất. Nhưng vì chúng ta phá nhiều rừng nên còn ít cây xanh hơn để điều hòa hiệu quả lượng khí CO2 mới này. Hệ quả là chất lượng không khí sẽ đi xuống, và ônhiễm không khí đang giết chết khoảng 7 triệu người mỗi năm. 

Tệ hơn nữa, nhiều nhà khoa học cảnh báo rằng khi băng tan đi còn có thể giải phóng các loại virus và vi khuẩn cổ đại đã bị mắc kẹt trong giá lạnh hàng chục đến hàng trăm nghìn năm. Khó mà biết được các chủng vi khuẩn, virus này nếu thâm nhập vào dây chuyền của cuộc sống sẽ gây nên những rắc rối nào. 

CÒN THÚ NÀO CHƠI VỚI LOÀI NGƯỜI?

Theo báo cáo Living Planet 2018 của WWF với sự tham gia của 59 nhà khoa học trên toàn cầu: Nhân loại đã quét sạch 60% động vật có vú, chim, cá và bò sát kể từ năm 1970. Hơn 7,8 tỷ con người chỉ chiếm 0,01% tất cả các sinh vật sống trên trái đất, tuy nhiên loài người đã gây ra sự biến mất của 83% các động vật có vú hoang dã và một nửa các loài thực vật kể từ buổi bình minh của nền văn minh nhân loại.

Liên đoàn Động vật hoang dã Thế giới ước tính rằng sự nóng lên toàn cầu có thể khiến 20 đến 30% các loài trên thế giới đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Ví dụ, quần thể hổ đã giảm xuống chỉ còn 3200 con và sự nóng lên toàn cầu khiến cho mực nước biển dâng cao, hạn hán, cháy rừng đe dọa trực tiếp môi trường sống của chúng. 

Tự nhiên thần kỳ đã phải trải qua hàng tỷ năm để tạo nên mạng lưới sinh vật đa dạng với những mối liên kết bền chặt. Con người chỉ là một dấu chấm trong hệ sinh thái. Xã hội loài người phụ thuộc vào không khí sạch, nước và mối quan hệ với các loài khác để sinh tồn. Lấy chú ong mật làm ví dụ nhé. Ong mật đóng góp cho sự sống của loài người nhiều hơn việc chỉ sản xuất mật ong. Ong mật đã giúp thụ phấn cho 1/3 số thức ăn chúng ta bỏ vào miệng, vậy mà ở Mỹ 40% môi trường sống tự nhiên của ong đã bị tước mất do thuốc trừ sâu, ve. 

KHÔNG CÒN THÚ, OK, NGƯỜI CHƠI VỚI… NHỰA VẬY!

Tám triệu tấn nhựa xâm nhập vào đại dương mỗi năm, gây nguy hiểm cho động vật hoang dã và môi trường. Theo Ocean Conservancy, nhựa đã được tìm thấy ở 60% chim biển và 100% rùa biển.

Ô nhiễm rác thải nhựa vốn là một vấn đề toàn cầu. Tuy nhiên vì đại dịch COVID-19, chúng ta chuyển mối bận tâm sang phòng chống dịch, đã vô tình bước lùi trong cuộc chiến chống rác thải nhựa. 

Tại Mỹ, kể từ tháng 3 năm nay đã ghi nhận sự gia tăng mạnh về rác thải đô thị và rác tái chế. Ví dụ, tại Chicago đã thấy chất thải nhiều hơn tới 50%. Các thành phố của Mỹ đã chứng kiến mức tăng trung bình 20% trong chất thải rắn đô thị. 

Thái Lan bắt đầu năm 2020 với lệnh cấm sử dụng túi nhựa dùng một lần tại các siêu thị lớn. Thế nhưng, COVID-19 bùng phát buộc mọi người phải ở nhà. Chỉ trong tháng 4, lượng rác thải nhựa tại Bangkok tăng tới 62%, nguyên nhân là bởi nhiều người lựa chọn thực phẩm và hàng hóa giao đến tận nhà với rất nhiều bao bì nhựa. 

Nếu bạn vẫn thấy chuyện nhựa ở đại dương, ở Mỹ, ở Thái Lan sao mà xa xôi quá, thì chúng ta nói chuyện Việt Nam nhé: 

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, mỗi tháng, mỗi gia đình sử dụng đến 1kg túi nilon. Ở thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh, số lượng rác thải nhựa mỗi ngày thải ra môi trường lên tới 80 tấn. Còn theo thống kê của Hiệp hội nhựa Việt Nam thì trong khoảng thời gian 1990 – 2015 số lượng tiêu thụ nhựa ở Việt Nam đã tăng lên chóng mặt, từ 3,8 kg/người/năm lên đến 41 kg/người/năm.

Trong khi đó, lĩnh vực xử lý và tái chế nhựa ở Việt Nam chưa phát triển, nên đa số rác thải được chôn lấp, đốt hoặc thải thẳng ra môi trường. Đơn cử ở thành phố Hồ Chí Minh, trong 250.000 tấn rác thải nhựa thì có 48.000 tấn được đem đi chôn lấp, hơn 200.000 tấn được tái chế hoặc thải thẳng ra môi trường. Theo thống kê của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), tại Việt Nam hiện có hơn 900 bãi chôn lấp chất thải sinh hoạt, trong đó chưa đến 20% bãi chôn lấp hợp vệ sinh. 

(Bài viết sử dụng tư liệu từ WWF, UN, WHO, BBC Future.)

LANA 

Leave a Reply