Quyền Của Người Đồng Tính

Ngày 9/5/2012 đánh dấu thời khắc lịch sử của cộng đồng đồng tính khắp thế giới. Trong buổi phỏng vấn với đài ABC News, tổng thống Mỹ đương nhiệm Barack Obama lên tiếng ủng hộ hôn nhân đồng tính, “Những cặp đôi đồng tính nên được kết hôn.” Phát ngôn của Tổng thống Obama dù không dẫn theo chỉnh sửa nào trong luật hôn nhân gia đình Mỹ, nhưng đã khiến dâng cao hơn cả hai làn sóng ủng hộ lẫn phản đối hôn nhân đồng tính; kéo theo đó là các vấn đề về luật, quyền liên quan đến người đồng tính.

Tình yêu và tình dục đồng tính được khai thác trong nhiều tác phẩm nghệ thuật từ thời La Mã cổ đại, thời Phục Hưng, khắp từ châu Âu sang Trung Đông, Ả Rập, từ Ấn Độ sang Trung Quốc, Nhật Bản. Tại Trung Quốc còn phát hiện ra những di phẩm về chủ đề đồng tính có từ thời Đồ Đồng. Cũng tại Trung Quốc, thời nhà Minh được xem là kỳ cực thịnh cho các sáng tạo lấy cảm hứng từ quan hệ đồng tính. Những bước chuyển của lịch sử, kéo theo là thay đổi xã hội và nhận thức của con người đã đẩy người đồng tính vào góc tối, phải sống giấu mình. Cho đến nửa cuối thế kỷ 20, theo các phong trào đấu tranh vì bình đẳng, tự do, người đồng tính mới bắt đầu dần bước lại ra ánh sáng – giành quyền sống là chính mình. Đến ngày 17/5/1990, tổ chức Y tế Thế giới WHO đã loại “đồng tính luyến ái” ra khỏi hạng mục bệnh tâm lý. Ngày nay, những người quan tâm và có hiểu biết đều không còn xem đồng tính là bệnh, hay khiếm khuyết cơ thể. Nếu muốn “phân loại” thì đồng tính là khuynh hướng tình dục khác dị tính, vậy thôi!

Tuy nhiên, một phần rất đông của thế giới vẫn dùng áp lực truyền thống, xã hội và tôn giáo để đè nặng, ngăn cản các cặp đồng tính đến với nhau. Cộng đồng đồng tính được thừa nhận ở nhiều khía cạnh xã hội. Họ làm việc, đóng thuế, bầu cử, nhưng không được hưởng quyền kết hôn với người yêu. Có câu “Hôn nhân trên nền tảng tình yêu có thể mạo hiểm, nhưng điều ấy làm Chúa mỉm cười” (Marrying for love may be risky but God smiles on it). Nhưng chẳng lẽ, yêu chưa đủ là nền tảng cho một cuộc hôn nhân đồng tính?

Cầu vồng 7 sắc là biểu tượng của người đồng tính.

 

Vì sao “ném đá” hôn nhân đồng tính?

Con người có xu hướng kém thoải mái với những gì khác mình. Con người càng sợ thay đổi của môi trường sống quen thuộc, buộc phải xây dựng lại từ đầu hệ suy nghĩ và nhìn nhận. Do vậy, nhiều người viện muôn cớ trên đời để chống hôn nhân đồng tính, bởi họ biết nếu chấp nhận, chắc chắn sẽ dẫn đến nhiều xáo trộn trong xã hội. Điểm qua các “hòn đá” phổ biến thường được ném vào hôn nhân đồng tính:

  • Hôn nhân là phải dị tính. Từ ngàn xưa, nam nữ cưới nhau, sống chung là để duy trì nòi giống, tạo thành một gia đình. Người ta gọi gia đình là tế bào của xã hội, vì gia đình sản sinh ra các cá nhân mới, giúp xã hội nảy nở và phát triển. Hôn nhân nam-nam hay nữ-nữ thì làm cách nào sinh con?
  • Hôn nhân đồng tính vi phạm luật của tự nhiên. Chẳng phải vô cớ mà quá trình tiến hóa của con người và các động thực vật sống lại phân chia và phát triển giới tính nam nữ.
  • Một đứa trẻ sẽ phát triển tốt nhất khi được nuôi dưỡng bởi cả cha và mẹ. Minh chứng là hàng loạt khó khăn mà trẻ cô nhi hay trẻ trong gia đình chỉ có cha hoặc mẹ gặp phải trong quá trình trưởng thành. Nếu một đứa trẻ lớn bên phụ huynh là cặp đồng tính, thì chúng sẽ gọi ai là cha, ai là mẹ. Và khi một trong hai phụ huynh (hay cả hai) không có quan hệ máu mủ, lúc cơm không lành, canh không ngọt thì đứa trẻ đó càng dễ lâm vào cảnh “con anh, con tôi” hay bị bỏ rơi.
  • Pháp luật thừa nhận hôn nhân đồng tính sẽ cổ xúy cho lối sống đồng tính. Một xã hội mà giới tính lằng nhằng và lối sống loạn xạ dễ ảnh hưởng lên những thanh thiếu niên chưa có chính kiến, khiến họ học đòi, thử “của lạ”, lâu dần thành thói quen.
  • Nhiều nhà hoạt động vì quyền của người đồng tính so sánh công cuộc đấu tranh cho cộng đồng đồng tính với cách mạng chống phân biệt giai cấp, phân biệt chủng tộc của nhiều thập niên trước. Nhưng, điều này chẳng liên quan. Khác biệt màu da hay giai cấp thì cặp đôi kia vẫn là nam nữ.
  • Thế kỷ 20 chứng kiến sự ra đời và bùng phát mạnh mẽ của cách mạng tình dục. Nếu thế kỷ 21 cho phép sự bùng nổ của hôn nhân đồng tính dưới lá cờ “tự do”, thì chuẩn tự do nào sẽ nối gót? Hôn nhân giữa anh chị em, người thân? Hay tình dục trẻ em?
  • Hôn nhân đồng tính là phạm tội tày đình với Chúa và lời Kinh thánh dạy.
Yêu là bình đẳng.

 

Hôn nhân đồng tính chỉ là bề nổi tảng băng.

Nhắc đến “đồng tính”, chúng ta nghĩ ngay đến quan hệ giữa hai người cùng giới. Do vậy, trong các luật và quyền liên quan đến người đồng tính, được quan tâm nhất chính là tình yêu, hôn nhân. Nhưng đây chỉ là bề nổi của tảng băng, là ưu tiên đấu tranh ở những nước mà cộng đồng đồng tính đã được nhiều phần bình đẳng trong cuộc sống. Còn ở phần còn lại của thế giới, trong đó có Việt Nam, hãy còn nhiều người đồng tính không dám hoặc không muốn nhìn nhận bản thân. Họ sợ những kỳ thị và phân biệt nhan nhản trong gia đình, môi trường sống, học tập và làm việc. Chịu sự trêu ghẹo và “xúi bẩy” của vài nhóm người thiển cận, một số người đồng tính còn tự bi kịch hóa cuộc đời, từ đó nảy sinh xu hướng chối bỏ bản thân, tự kỷ, thậm chí dẫn đến tự tử. Những con số nói lên tất cả. Theo một khảo sát của trung tâm iSEE năm 2011 tại Việt Nam, thì:

  • 63,1% phụ huynh sẽ thất vọng nếu biết con đồng tính
  • 43,7% phụ huynh nếu biết bạn con là người đồng tính thì sẽ ngăn con chơi cùng
  • 23,8% sẽ bo xì bạn nếu biết bạn là người đồng tính
  • 45,2% học sinh không thoải mái nếu biết thầy giáo là đồng tính
  • 26,5% người khảo sát từ chối làm cùng phòng với người đồng tính

Ai cũng muốn được sống thật. Sống thật nhẹ đầu. Nhưng công khai bản thân là người đồng tính để rồi phải đối phó muôn vàn định kiến, kỳ thị, mấy ai ham? Có khi quyết định để sống nhẹ nhàng ấy hóa ra lại đổ ngàn tấn đá lên bản thân. Đặc biệt, xã hội Việt Nam là xã hội trọng thể diện. Người đồng tính – là thành viên của gia đình, họ tộc – rất đắn đo đến người thân, không thể thoải mái tự quyết định việc “tôi đồng tính và sẽ sống như một người đồng tính” như ở các nước Âu Mỹ. Nên thay vì chờ từng cá nhân tự xây dựng một hệ quan điểm cởi mở với người đồng tính (việc này chắc chắn lâu và phức tạp), những nhà lập pháp, ban quyền nên tiên phong. Các luật và quyền giúp thiết lập môi trường sống công bằng, lành mạnh cho người đồng tính sẽ định hướng cho xã hội sống khoáng đạt, gia tăng chỉ số hạnh phúc. Khi không phải lo lắng quá chuyện riêng, người đồng tính sẽ chuyên tâm đóng góp vào các lĩnh vực, từ đấy kéo theo tăng trưởng kinh tế. Một bức tranh to lớn và xinh đẹp luôn bắt đầu từ những nét cọ nhỏ.

Bàn về quyền có vẻ lớn lao (bệnh tâm lý!), nhưng thực ra rất đơn giản. Quyền mà người đồng tính mong muốn chỉ khác về mặt tính chất, chứ không khác về mặt đặc quyền so với các quyền cơ bản của con người. Người đồng tính không đòi hỏi quyền lợi. Họ chỉ muốn quyền được đối xử bình đẳng trong cuộc sống, học tập và làm việc, được tôn trọng tự do cá nhân, được kết hôn trên nền tảng tình yêu.

Chỉ cần tay ấm trong tay, không gì là không thể.

 

Khi kỳ thị hay châm chọc người đồng tính, bạn đang vi phạm Nhân Quyền.

Phân tích vài điều từ Bản Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế làm ví dụ nhé:

  • Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm, và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái (điều 1): Khi bạn châm chọc người đồng tính chỉ vì người ấy yêu người cùng phái tính (và khác bạn), nghĩa là bạn đang có hành động bất công, xâm phạm nhân phẩm và quyền.
  • Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình (điều 12): Khi bạn lên án người đồng tính là sống lệch lạc, nghĩa là bạn đang xâm phạm cuộc sống riêng của người khác, thậm chí là xúc phạm danh dự họ. Trong trường hợp bạn không sinh ra hay nuôi dưỡng họ, thì bạn càng cần… soi gương, tự vấn xem mình là ai mà có quyền cản trở cuộc sống người khác?!
  • Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn việc làm, quyền được hưởng các điều kiện làm việc chính đáng và thuận lợi đối với công việc (điều 23): Đánh giá khả năng là việc của một người trên khuynh hướng tình dục của người ấy, đầu óc bạn chắc đang nhất thời thiếu minh mẫn?! Nhiều người đồng tính vô cùng thông minh, tài giỏi. Tạo điều kiện cho họ phát huy hết khả năng và sở trường sẽ chỉ có lợi mà thôi.
  • Mọi người đều có quyền được giáo dục (điều 26): Giáo dục là phạm vi của trí não, do vậy chắc chắn việc một học sinh nam yêu một học sinh nam khác không ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu bài vở. Thầy cô giáo trước hết cần thông cảm và bảo vệ học sinh đồng tính trước trêu ghẹo, phân biệt của bạn bè. Giáo dục là để đào tạo ra thế hệ tương lai khỏe mạnh về tri thức, thể chất và tinh thần. Nếu thầy cô giáo cũng kỳ thị học sinh đồng tính, nghĩa là họ đang góp phần “nhào nặn” nên một thế hệ người đồng tính quặt quẹo về tâm lý và niềm tin, đồng thời cũng “dạy dỗ” nên những học sinh khác sống ích kỷ, biết thù ghét người khác.
  • Mọi người đều có quyền tự do tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thưởng thức các bộ môn nghệ thuật, và cùng chia sẻ các tiến bộ khoa học cũng như các lợi ích của khoa học (điều 27): Google xem có bao nhiêu nhà nghệ thuật, sáng chế tự cổ chí kim là đồng tính? Liệu bạn có đang sử dụng những thành quả lao động và sáng tạo của họ?
Ai cũng có quyền mưu cầu hạnh phúc.

 

Hãy xem xét bản chất của vấn đề, “đồng tính” không phải là nguyên do!

Đóng góp một phần không nhỏ trong nhận thức kỳ thị dành cho người đồng tính là phim ảnh, sách báo. Phim Việt rất hay lấy những nhân vật đồng tính hay chuyển giới để tạo “điểm nhấn” bằng những vai hài lố hoặc bi đát. Dạo một vòng các báo mạng lớn nhỏ, hay Google thử, bạn sẽ thấy không ít các tít im đậm – gạch dưới – in nghiêng từ “đồng tính”, ví dụ “nạn nhân đồng tính”, “hung thủ đồng tính”, vân vân. Thế nhưng, xét trong tính chất sự việc thì “nạn nhân” có gì khác với “nạn nhân đồng tính”? Viết như thế chẳng khác bảo “vì đồng tính nên mới bị hại”. Cũng y vậy với “hung thủ” và “hung thủ đồng tính”, đâu phải vì đồng tính nên có máu ác. Những người phạm tội vì họ tham lam, xem thường pháp luật, chứ không phải vì đồng tính nên họ phạm tội.

Hãy động não xem những trường hợp sau là giống hay khác:

  1. Một người đàn ông có vợ, bỗng nhiên thích quan hệ tình dục với người cùng giới.
  2. Một người đàn ông có vợ, bỗng nhiên thích quan hệ tình dục với người phụ nữ khác?

Cả hai cùng là vấn đề sự cam kết, ràng buộc và chung thủy trong hôn nhân. Nhưng xã hội thường chăm chăm nhìn vào yếu tố “người tình cùng giới” hơn. Vậy việc đánh giá thật ra là vấn đề người đàn ông này quan hệ với người khác ngoài hôn nhân, chứ không phải là với người cùng giới hay khác giới.

  1. Một bạn nữ phát biểu rằng cảm thấy “ghê ghê” khi các bạn đồng tính nữ chạm vào cơ thể mình.
  2. Bạn nữ đó cũng “cảm thấy ghê ghê” khi một bạn trai không phải là người yêu chạm vào cơ thể.

Cảm giác “ghê” của bạn nữ này với người đồng tính thực ra là cảm giác chung cho bất kì người nào ngoài người yêu của bạn ấy, chứ không phải vì đó là người đồng tính. Đây là biểu hiện của việc xem tất cả những gì liên quan đến đồng tính là thấp kém hơn so với dị tính. Nó khiến việc nhìn nhận một số vấn đề của chúng ta bị mất đi khả năng đánh giá vào bản chất khách quan của sự việc.

  1. Đôi tình nhân nam nữ vừa chia tay: chuyện bình thường.
  2. Đôi tình nhân cùng giới ấy vừa chia tay: “Người đồng tính mà! Làm gì có khả năng xây dựng mối quan hệ lâu dài.”

Bản chất vấn đề ở đây là tình yêu. Một mối quan hệ giữa người và người thì có thăng hoa, cũng có thăng trầm. Bạn chỉ nhìn thấy những thứ mà bạn tin, nên chưa từng tìm kiếm để biết về những mối tình đồng tính bền vững mà thôi.

 

Bình đẳng cho người đồng tính: Một trong những đỉnh cao của cuộc sống bình đẳng.

Chúng ta hay nhìn những hệ lụy tiêu cực của các vấn đề đồng tính, như kết hôn rồi sao có con, cổ xúy cho “phong trào” đồng tính lan rộng trong một bộ phận thanh niên nhận thức yếu, a dua. Thế nhưng, càng phân biệt dị tính hay đồng tính, chính chúng ta lại càng đặt nhẹ trái tim, bộ não con người, mà chỉ chăm chăm vào “thứ” trong chiếc quần lót vận hành ra sao. Nếu “e sợ” hôn nhân đồng tính làm giảm tỉ lệ của hôn nhân dị tính, thì có chăng, chỉ làm giảm tỉ lệ những người đồng tính kết hôn với người dị tính hòng che mắt. Như vậy, càng làm giảm tỉ lệ “bất hạnh” của những bà vợ, ông chồng và giảm tỉ lệ ly hôn.

Dị tính tốt. Đồng tính cũng tốt. Có thể, khi các cặp đôi đồng tính cưới nhau, sẽ phát sinh nhiều vấn đề mới, nhưng cùng nhau giải quyết thì chắc chắn xã hội sẽ tìm được đường sáng để đi. Còn nếu chúng ta ngồi phản đối miệng, vẽ vời ra các hậu quả, thì khi sự việc đến như hướng đi lịch sử của chính nó, vạn sự càng bét nhè do không chuẩn bị trước. Hôn nhân, suy cho cùng hãy nghĩ về tình yêu của hai người trong cuộc, đó mới là sự nhân văn của một xã hội.

 

Tình đẹp phải qua gian nan.

 

Hành động vì hạnh phúc. Mục tiêu cao nhất của cuộc sống là hạnh phúc. Ai cũng có quyền yêu và được yêu. Ai cũng có quyền mưu cầu hạnh phúc, miễn sao cuộc mưu cầu ấy không tổn hại quyền lợi của người khác. Nếu bạn không sống cuộc đời người đồng tính, cớ gì hằn học hay phản đối? Còn như bạn vẫn không thích thì xin đừng làm gì cả, yên lành sống những ngày của mình, chớ gây thêm khó khăn cho cuộc sống của những người không quen biết. Còn nếu bạn muốn đóng góp cho quyền bình đẳng của người đồng tính, dễ lắm! Từ nay, trước khi chặc lưỡi “cảm thương” cho người đồng tính, dành vài giây nhắc mình rằng sự bất hạnh đó đến từ việc xã hội, mà có khi là chính bạn vẫn còn kỳ thị và định kiến.

Định nghĩa nào cho hôn nhân? Người ta hay lấy cớ vì hôn nhân đồng tính không sinh sản được nên không ủng hộ. Vậy nên làm thế nào với những cặp nam nữ qua độ tuổi sinh sản mà vẫn muốn kết hôn? Cần chăng việc bắt các đôi nam-nữ đi khám vô sinh trước khi cho cưới?

– LANA –

7 Comments

Leave a Reply