Ngàn Lời Trong Tiếng Mõ

(phóng tác từ bài hát Độ Ta Không Độ Nàng)

TIỂU CÔNG TỬ NHÀ QUAN PHỦ

Năm đó, cậu mười tuổi, là công tử duy nhất của nhà quan phủ. Cha cậu là quan lớn đứng đầu một vùng, lừng lẫy một phương, là cánh tay phải của triều đình, có công đầu trong việc bình ổn đời sống nhân dân của cả vùng duyên hải rộng lớn.

Ngày qua tháng lại, công trạng càng dày, kẻ thù càng lắm. Dẫu cha cậu luôn sống ngay thẳng thanh liêm, nhưng chẳng hiểu tại sao lại trở thành cái gai trong mắt của một số phe cánh trong triều đình. Có lẽ, do cha của cậu chính trực quá. Có lẽ, do dải đất ven biển này giàu có quá. 

Năm đó, vì vài bài thơ viết nên trong lúc trà dư tửu hậu thưởng hoa vọng nguyệt, mà cha cậu bị Hoàng Đế khép tội khi quân phạm thượng, âm mưu tạo phản, liên lụy cả nhà. 

Đêm đó, cậu đang say ngủ thì bị kéo dựng dậy. Gã cận vệ thân tín của cha cậu chẳng nói chẳng rằng đã ấn cậu nhét vào bao tải, rồi xốc lên lưng ngựa phi nước đại. Cậu hoảng sợ, ngỡ mình bị bắt cóc, ngỡ kẻ đó muốn hãm hại cậu để trả thù cha vì một chuyện nào đó. Cậu không biết rằng, ở phía sau lưng mình, phủ gia đang chìm trong tiếng khóc than thấu trời, mùi máu tanh dậy nồng cả một khoảng không rộng lớn. 

Ngựa phi, phi mãi. Qua bờ cát dài nồng nàn tiếng sóng. Qua những làng mạc. Qua những núi đồi. Qua thảo nguyên xanh thắm bao la. 

Cậu chẳng nhớ mình đã ở trên lưng ngựa mấy ngày mấy đêm nữa. Cậu đói khát. Cậu đại tiện tiểu tiện trên lưng ngựa. Cậu la hét. Nhưng gã cận vệ chẳng đoái hoài, chỉ thúc cương ngựa phóng đua với gió. 

Cuối cùng, gã cận vệ đưa cậu đến kinh thành vào cuối một buổi chiều nắng màu cam rực. Gã thắng ngựa dừng lại trước cổng phủ Hầu Gia. Hai người vừa bước xuống, con ngựa liền quỵ ngã. Gã cận vệ đưa một lá thư cho người lính canh cổng, rồi gã quay sang nhìn cậu, dùng những ngón tay gầy guộc run run chải lại tóc cho cậu, dùng vạt áo dính đầy cát bụi lau mặt cho cậu.    

Một lát sau, cổng phủ mở lớn ra. Một người đàn ông vận đồ đen, thắt lưng giắt một viên ngọc vàng bước nhanh xuống bậc tam cấp, tiến về phía cậu và gã cận vệ. Gã cận vệ liền cúi thấp đầu chào, lúc đó cậu biết ông ấy chính là Hầu Gia, là người bạn thân từ thưở thiếu thời mà cha cậu vẫn thường nhắc đến, vẫn hay thư từ liên lạc. 

Gã cận vệ lấy từ đôi ủng ra một mẩu giấy nhỏ được cuộn lại như điếu thuốc, kính cẩn hai tay dâng cho Hầu Gia. Tờ giấy rất nhỏ nhưng ông đọc rất lâu, đôi mày càng lúc càng nhíu cứng lại, tưởng hóa liền thành một đường. Sau đó, ông hướng đôi mắt sáng nhìn xuống cậu. Ánh nhìn uy nghiêm, nhưng cậu lại trông rõ trong đôi ngươi ấy là một trời biển thương tâm. 

“Con tên là gì?” Hầu Gia hỏi cậu.

“Dạ, Trần Bằng.” Cậu ngẩng cao đầu, mạch lạc đối đáp.

Bỗng, gã cận vệ đổ gục xuống đất, nằm sõng soài dưới chân hai người. Đã nhiều ngày ít ăn ít uống, lại cật lực băng qua ngàn dặm hành trình, hành xác như vậy thì đến thể chất của tướng võ cũng phải rộc rã đi. Cậu hốt hoảng ngồi bệt xuống lay lay gã, rồi chính cậu cũng ngất đi…

BẰNG CA

Cậu chầm chậm mở mắt tỉnh dậy, thấy mình đang ở trên một chiếc giường phủ màn lụa màu xanh ngọc rất đẹp. Cậu nằm im, chờ các giác quan tuần tự tỉnh thức. Chăn gối thật êm. Mùi trầm hương xông phòng thơm thoang thoảng. Có tiếng người thở khẽ trong phòng. 

Giường lạ. Nhà lạ. Người lạ. Nhưng cậu không sợ. Nếu Hầu Gia muốn đối ác với cậu, thì đã không cho nằm trên giường tốt thế này. Cậu chỉ thắc mắc gã cận vệ đã đưa cậu đến đây bây giờ sao rồi, đã tỉnh hay chưa? Chắc là sẽ không chết vì kiệt sức chứ? Tại sao hắn lại phải cấp tốc đưa cậu ngàn dặm xa xôi đến đây?

Có tiếng cửa mở. Rồi tiếng Hầu Gia vang khẽ: “Thằng bé đã tỉnh chưa?” 

“Thưa Hầu Gia, chưa ạ.” Tiếng một người phụ nữ nghe có vẻ mềm mỏng và phục tùng, chắc là gia nhân trong phủ được cắt cử ở đây trông nom cậu.

“Đã ngủ cả một ngày rồi, phải dậy ăn uống gì đó chứ.”

Cảm nhận được tiếng chân mạnh mẽ của Hầu Gia trên nền nhà, tiến gần đến phía giường, cậu liền dùng hết sức để nhấc thân mình dậy. Nhưng cậu chẳng còn mấy tàn hơi. Cậu chỉ có thể chống gượng cánh tay lên gối, nửa nằm nửa ngồi. 

Rèm giường được vén ra. Hầu Gia nhìn thẳng vào cậu. Vẫn là ánh mắt uy nghiêm nhưng đong đầy thương cảm ấy. Thấy tình cảnh của cậu, ông vội vàng đỡ lấy thân người cậu kéo dậy. Cánh tay vững chãi của ông ôm lấy đôi vai trẻ con bé nhỏ của cậu. 

Cậu ngước nhìn gương mặt của ông, cất lời hỏi. Khi những thanh âm phát ra khỏi cổ họng, đến cậu cũng bất ngờ vì nó thều thào như tiếng nói vọng lên từ mặt đất.

“Có chuyện gì xảy ra với nhà con vậy?”

Hầu Gia không trả lời. Đôi môi ông mím chặt. Ánh mắt ông bùng lên hai ngọn lửa khủng khiếp. Cậu cảm nhận được năng lượng của một sự giận dữ bị nén chặt trong những ngón tay ông đang bấu trên vai mình. Cậu thấy đau. Vai cậu đau. Tim cậu đau. Cậu vừa hiểu được rằng cả đời này mình chẳng thể gặp lại cha mẹ và em gái nữa rồi.   

Phải mất rất lâu sau, Hầu Gia mới lên tiếng, giọng rất nhỏ, “Ta xin lỗi. Ta đã không đoán biết được. Ta không ngờ Hoàng Thượng lại đường đột giải quyết chuyện này như vậy.”

Cậu lại ngất đi. 

Rất lâu sau đó, cậu nằm lì trên giường. Thỉnh thoảng lại có người đánh thức, kéo cậu dậy để đút cho vài muỗng cháo, ép mớm mấy hớp nước. Cậu không màng đến thời gian, mặc kệ đã bao ngày bao đêm trôi qua. Cậu không muốn tỉnh dậy. Những phần não còn tỉnh táo của cậu chật vật tính toán kế hoạch để chết đi. Nếu không ăn uống vận động, nếu cứ mãi nằm ở đây thì cậu hẳn sẽ lịm dần. Cha mẹ mất, người thân mất, nhà mất, chỉ còn rất nhiều kẻ thù và một cái án tử chết chung cùng gia quyến chờ sẵn, như vậy cậu sống tiếp được sao? Chờ người ta giết mình, chi bằng tự mình quyết định sống chết. 

Cậu nằm ngoan trên giường. Hân hoan chờ đợi cái chết đến đón mình đi.

Cậu dần hé mắt. Một chút ánh sáng phả qua rèm giường khiến cậu biết rằng đang là ban ngày. Cậu nằm ở đây đã bao lâu rồi nhỉ? Tại sao cậu chưa chết?

“Bằng Ca! Dậy mau!”

Chiếc rèm giường bị kéo mạnh ra. Ánh nắng xộc vào đống chăn gối nồng mùi hơi người rệu rã. Cậu nhìn thấy những mảnh tơ bụi bay bay trong không trung sáng rỡ. 

“À, thì ra Bằng Ca đã dậy rồi à?”

Cậu nhìn sang cô gái nhỏ đang đứng bên giường mình. Đôi má hồng đào phúng phính và ánh mắt sáng rực rỡ như kim cương. Bím tóc cô thả ngang vai, đính những viên ngọc trai nhỏ. Váy áo của cô màu xanh ngọc bích. Cô mỉm cười đáng yêu. Cô vừa cất tiếng lảnh lót gọi cậu là “Bằng Ca”, tưởng như hai người thân thiết lắm, nhưng cậu nào biết cô là ai. 

Cô gái dùng cả hai bàn tay nắm lấy cẳng tay cậu, kéo cậu ngồi dậy. Cô ngồi xuống mép giường cậu, nhận lấy một cái xửng nhỏ từ tay người hầu. Cô mở nắp xửng ra trước mặt cậu. Hơi nước nóng bên trong xửng phả lên những luồng ấm áp nhỏ bé. Giữa xửng là một cái bánh bao to đùng mập ú, bự bằng bàn tay người lớn đang xoè ra, trông khá xấu.

“Bằng Ca ăn đi. Bánh bao nhân nấm và rau em và mẹ tự làm để lên chùa Trấn Quốc lễ Phật đấy. Cái này em làm riêng cho anh.”

“Cám ơn.” Cậu thều thào.

Cô bé cười rất tươi, “Lần đầu tiên em làm bánh bao nên nhìn còn xấu, nhưng ăn ngon lắm. Lần sau em làm chắc chắn sẽ đẹp hơn.”

Cậu không cần phải hỏi thân thế cô bé làm gì. Cách nói chuyện này, phục sức này, ngoài thiên kim tiểu thư Hầu phủ thì chẳng có ai. Hình như ngày còn nhỏ cô và cậu đã từng được người lớn đính ước. 

Cậu đưa hai bàn tay cẩn thận nhấc lấy chiếc bánh bao, đưa lên miệng cắn một miếng nhỏ. Cậu vừa nhai vừa ngước mắt nhìn cô. Cô gái nhỏ đang cười rất tươi, lộ ra một chiếc răng khểnh xinh xinh. Cô trạc tuổi em gái cậu… 

Nước mắt của cậu bỗng trào ra, lặng lẽ mà xối xả, thấm ướt xuống cả bánh bao.

Những ngày sau đó, ngày nào cô bé cũng đến. Lần nào cô cũng đem theo một món ăn do chính tay mình làm. Cô đang bắt đầu học nấu nướng, nên muốn cậu thử nghiệm thành phẩm. Bò kho, miến hầm hải sản, rau cải xào, súp tổ yến, cháo yến mạch, chè ngũ sắc… Những món ăn của cô đã từ tốn đắp những lớp da thịt mới lên người cậu. 

Đến một ngày, cậu xuống được khỏi giường. Đến một ngày, cậu bước ra được khỏi phòng. Đến một ngày, cậu có thể ra vườn ngồi hóng gió… Đến một ngày, một buổi chiều, gia nhân đưa cậu đến phòng ăn chính của Hầu phủ. 

Khi cậu bước vào phòng ăn, cậu nhìn thấy Hầu Gia, phu nhân, cô bé nhỏ và hai anh trai của cô đã ngồi sẵn ở bàn. Hầu Gia bảo cậu đến ngồi xuống cạnh mình, cả nhà cùng ăn bữa tối. Cậu không chú ý đến vẻ mặt của người khác, kể cả Hầu Gia, chỉ nhìn thấy cô bé đang cúi gằm mặt rất buồn, đôi mắt hoen đỏ. Cậu biết, đây chính là bữa ăn cuối cùng của mình ở phủ Hầu Gia. 

Bữa ăn tối đó đầy sơn hào hải vị. Món nào cũng nêm nếm rất vừa miệng, chứng tỏ tay nghề thượng hạng của đầu bếp, nhưng cậu lại chẳng thấy ngon bằng những món ăn mới-nấu-lần-đầu của cô bé.

Đến giữa bữa ăn, tự dưng cô bé nấc lớn một tiếng rồi oà khóc nức nở.

Phu nhân vội vàng vỗ về con gái, “Ngọc Giai, nín đi nào. Sao lại khóc?”

Hầu Gia buông bát đũa xuống, hết nhìn con gái lại nhìn sang cậu. Ông chẳng nói gì, chỉ thở dài. 

Sau bữa ăn, Hầu Gia gọi cậu đến thư phòng. Ông ngồi sau bàn viết, bảo cậu ngồi xuống chiếc ghế đối diện nhưng cậu từ chối. Cậu chỉ đứng ở bên bàn. 

Hầu Gia cứ nhìn thẳng vào cậu, ánh mắt uy nghiêm đong đầy thương xót. Cuối cùng, ông lên tiếng, giọng nói rất ấm và rất nhỏ: “Ta có lỗi với Trần gia. Ta có lỗi với con.”

Cậu nhìn thẳng vào mắt ông, mỉm cười nhẹ nhàng: “Hầu Gia đừng nói vậy. Nếu không có người bảo bọc, thì con đã chết lâu rồi.”

Hầu Gia thở dài, “Bọn người trong triều quyết tâm diệt cỏ tận gốc, đã tâu hoàng thượng về chuyện của con. Nhưng con đừng lo, ta đã lo liệu xong cả rồi. Từ nay về sau không ai dám làm tổn hại con đâu, nhưng mà…”

Hầu Gia bỏ lửng câu nói. Tác phong lưỡng lự, nhát gừng này thật không giống một tướng võ chút nào. 

Cậu nhẹ nhàng nói: “Nhưng con sẽ phải rời Hầu phủ đúng không ạ? Hầu Gia đừng lo nghĩ là con sẽ buồn chuyện đó. Đó là chuyện con phải làm. Con đã khoẻ mạnh lại rồi, nếu còn ở lại đây sẽ liên luỵ đến người và gia quyến. Con chỉ xin nhờ người một việc, đó là người cận vệ của cha con đã đưa con tới đây. Mong Hầu Gia hãy thu nhận và bảo bọc cho anh ta.”

Hầu Gia xoa đầu cậu, “Trẻ con mười tuổi mà hiểu chuyện thế rồi. Trần huynh chắc chắn đã dạy con rất chu đáo.”

Nói xong, Hầu Gia đưa cho cậu một con dao bằng vàng trơn, dài hơn một tấc, “Đây là vật ta luôn giữ bên mình. Năm xưa, chính cha con đã tặng nó cho ta vào ngày ta đỗ võ trạng nguyên. Nó đã theo ta chinh chiến bao trận lẫy lừng, từng vài lần cứu mạng ta. Chỗ mà con sẽ đến, ta không thể gửi tiền bạc cho con đem theo được. Con hãy giữ lấy vật này làm may mắn hộ thân.”

Cậu kính cẩn hai tay nhận lấy con dao, cầm chặt nó trước ngực mình. Cậu nhìn Hầu Gia, nước mắt chảy ra thành hai đường thẳng cắt ngang bầu má. Rồi cậu bước lùi về sau ba bước, quỳ xuống, dập đầu ba lạy trước Hầu Gia. 

Sáng sớm hôm sau, chiếc xe ngựa đưa cậu rời Hầu Phủ khi tia nắng Mặt trời đầu tiên chạm xuống mặt đất, đến chùa Trấn Quốc làm chú tiểu. 

Không lâu sau, qua những câu chuyện mà cậu âm thầm nghe lỏm cóp nhặt được, cậu đã hiểu kế hoạch của Hầu Gia. 

Trong những ngày cậu kiệt sức nằm trên giường, Hầu Gia đã cho người tung tin khắp kinh thành rằng cậu, công tử nhà phản quan Trần Minh, chính là Phật tái thế. Vì mang cốt Phật nên cậu mới thoát được nạn kiếp gia tộc, mới khoẻ mạnh tỉnh táo sau bảy ngày bảy đêm ròng rã trên lưng ngựa. Sau đó, ông bàn với sư phụ trụ trì chùa Trấn Quốc, cũng là một người bạn cũ của cha cậu, đem cậu lên chùa xuất gia. 

Chùa Trấn Quốc ngàn đời bảo an cho hoàng gia và triều đình, không ai dám động tới. Sư phụ trụ trì là người ngoài mặt tuy không màng chính sự, nhưng là người chuyển lời của Phật đến với Đế Vương, không ai dám động tới. Cậu là chú tiểu bên cạnh sư trụ trì, không ai dám động tới. Cậu là hiện thân sống của Phật, không ai dám động tới.

NGỌC GIAI

Những mùa theo gió bay đi. Lá xanh, lá đỏ, lá vàng. Hoa nụ, hoa nở, hoa tàn.

Cuộc sống trong chùa Trấn Quốc đều đặn trôi. Ngày qua ngày. Cậu trở thành thân quen với tụng kinh gõ mõ, cơm chay đạm bạc, sáng thức sớm ngắm bình minh, chiều quét lá bồ đề, quét cả nắng hoàng hôn vàng úa. 

Cái giai thoại do Hầu Gia dựng nên rằng cậu chính là Phật hiện thân được sư cụ và các sư huynh sư đệ trong chùa rỉ tai nhau nhiều quá, khiến chính cậu lắm lúc cũng nửa tin là thật. Chuyện đó không là thật, nhưng cậu biết mình có một thiên phú kỳ lạ. Chỉ cần nhìn vào mắt người khác, cậu có thể thấu hiểu những mạch cảm xúc nào đang đập trong trái tim người ấy. Chỉ cần lắng nghe một người nói, cậu có thể đoán biết trong lời nói ấy có bao nhiêu phần thật giả, bao nhiêu toan tính đang che đậy dưới những lớp từ nhân nghĩa. 

Năm mười bốn tuổi, có dịp cậu vô tình trò chuyện với một vị vương gia, trong lúc ông ta chờ đợi gặp sư phụ trụ trì. Ông ta, chẳng hiểu vì sao, lại bày tỏ với một tiểu sư phụ không quen không biết về mấy việc đấu đá trong triều. Có lẽ, do suy tư để trong lòng nặng quá, phải tìm người trút ra cho nhẹ gánh. Có lẽ, do cậu ẩn thân cửa Phật, lại chỉ là một chú tiểu cỏn con vô hại, nên ông ta mới giãi bày. 

Khi vị vương gia đó nói, cậu chỉ cúi mặt, giả vờ chuyên tâm gật gù lắng nghe. Khi ông ta im lặng, thì cậu nhìn thẳng vào đôi mắt ông ta bằng biểu cảm ấm áp, nhắc lại đôi ba từ ngữ mà ông ta vừa nói, rồi hỏi vài câu vô thưởng vô phạt “Sau đó Vương Gia tính thế nào?”, “Sau đó người kia hành xử như thế nào?”, “Tại sao Vương Gia lại suy nghĩ như vậy?”, “Vương Gia còn có một cách giải quyết khác đúng không?”, vân vân. Thật ra cậu biết, ông ta vốn đã có sẵn hết câu trả lời cho mọi vướng mắc trong lòng, chỉ là ông ta quá rối để sắp xếp thẳng thớm những suy nghĩ đó mà thôi. 

Chính từ cuộc trò chuyện ấy, mà lời truyền rằng cậu là Phật tái sinh, có khả năng thấu hiểu tâm tư con người, có thể phổ độ chúng sinh, càng lan rộng vì đã có chứng minh đáng tin. Nhiều vị quý tộc, đại quan trong triều nhân dịp lên chùa Trấn Quốc lễ Phật đều cố ý tìm cậu để nhìn tận mắt, để chuyện trò vài câu. 

Mỗi tháng hai ngày rằm, Ngọc Giai đều cùng mẹ lên chùa Trấn Quốc thắp hương và ghé thăm cậu. Tuy đã không còn ở cùng một nơi, không cùng chơi đùa lớn lên, nhưng cậu vẫn có thể chứng kiến nàng khôn lớn, nhìn thấy mái tóc nàng dài dần ra, bờ má nàng bớt phính, đôi môi nàng thêm hồng. Và mỗi lần nàng đến, nàng đều đem cho cậu những món ăn chay rất ngon. 

Một buổi chiều nọ, khi cậu đang ngồi trên ghế đá trong khu vườn sau chùa và đọc một cuốn kinh quý, thì nàng rón rén bước đến từ phía sau. 

“Bằng Ca, em đem bánh bao cho anh này.” Tiếng nàngvang lên sau lưng cậu. 

Cậu quay lại, mỉm cười chào nàng. Nàng ngồi xuống bên cạnh cậu, vẫn dáng vẻ đáng yêu thân thiết như mọi khi. 

Nàng đưa một cái xửng nhỏ ra trước mặt cậu, “Cho anh này!”

Cậu đứng dậy, nhẹ nhàng bước lùi xa ra một chút, “Ngọc Giai, em năm nay đã mười lăm tuổi rồi, nên giữ ý tứ rồi, không nên thân mật với anh như vậy. Cũng hãy gọi anh là ‘sư phụ’ được rồi.”

Ngọc Giai liền xụ mặt xuống, nhưng tay nàng vẫn mở nắp xửng ra. Hơi nước nóng bên trong phả lên những luồng ấm áp nhỏ bé. Giữa xửng có bốn chiếc bánh bao nhỏ bằng cái nắm tay, tròn trắng căng mịn, trông rất đẹp.

“Là bánh bao nhân nấm và rau mà anh thích ăn nhất đấy.”

Cậu kẹp cuốn kinh vào nách, đưa hai tay đỡ lấy xửng bánh bao từ tay nàng. Cậu cười hiền, “Vẫn phải gọi là ‘sư phụ’ đấy.”

“Vâng, tiểu sư phụ.”

Hôm đó là một ngày tháng Năm, đầu mùa hè trời rất nóng. 

Vị sư huynh đảm nhiệm việc mua đồ dùng hàng tháng cho chùa bỗng dưng đổ bệnh, nên sư phụ sai cậu xuống chợ để mua những vật dụng cần thiết như giấy bút, khăn vải, một ít đồ ăn ngọt để phát cho trẻ con lên chùa chơi. 

Thật ra sư huynh không phải tự dưng đổ bệnh, mà do cậu đã trộn đồ ăn thiu vào phần ăn của anh ta, khiến anh ta phải bám trụ lấy nhà xí không đi đâu được, giúp cho cậu có cớ xuống chợ làm chút chuyện riêng. 

Đây là lần thứ ba cậu đến chợ lớn trong kinh thành. Lần đầu tiên là khi còn ở phủ Hầu Gia. Lần thứ nhì là năm ngoái, khi cậu phụ sư huynh xuống chùa mua đồ vì lần đó phải mua nhiều quá. Trí nhớ tốt, nên cậu vẫn nắm rõ đường đi nước bước, chỉ tốn chưa đến một canh giờ đã xong việc, mua hết những thứ được dặn. Ở cửa hàng bán kẹo, cậu hỏi thăm địa chỉ của tiệm tơ lụa nổi tiếng nhất chợ, rồi nhanh chóng đến đó theo hướng được chỉ.  

Bước vào hiệu tơ lụa, cậu không quan tâm đến lời chào hỏi đon đả của tay phụ buôn, mà đảo mắt nhìn quanh một vòng những xấp khăn lụa được treo kín tường. Ánh mắt cậu dừng lại ở chiếc khăn lụa màu xanh ngọc bích được dệt cùng những sợi tơ bạc óng ánh rất đẹp.

Cậu chỉ tay về dải lụa màu xanh ngọc bích, nói rõ ràng với tay phụ buôn: “Bần tăng xin được lấy dải lụa đó.”

Gã phụ buôn nhìn cậu từ đầu đến chân, ánh mắt đầy vẻ bỡn cợt, “Tiểu sư phụ à, mắt cậu thật có tinh tường đó nha. Thếp lụa đó có một không hai trong kinh thành, là hàng hảo hạng của làng lụa phương Nam đó. Nhưng mà đắt lắm đó, sư phụ có tiền không?”

Cậu chẳng nói chẳng rằng, lấy từ trong túi ra một xâu tiền vàng đưa cho tay phụ buôn.

Ánh mắt của tay phụ buôn còn sáng hơn cả xâu vàng, “Được được, tôi sẽ gói lại cẩn thận ngay cho sư phụ.”

Cậu lặng lẽ gật đầu xem như là cám ơn, gương mặt không lộ biểu cảm nào. Những đồng tiền tích cóp được do đám nhà giàu lén lút dâng tặng sau những lần cậu phổ độ một số “lời khuyên giảng” về cuộc sống cuối cùng cũng hữu ích. Cái này là trái quy củ nhà chùa, là ăn hối lộ một nửa. Nhưng cậu không từ chối, vì cậu biết sẽ có lúc mình cần dùng đến nó. Chùa ở giữa phố thì vẫn phải tuân theo ít nhiều quy tắc của xã hội chúng sinh trần tục, và trong xã hội đó thì phải có tiền mới sống được. Nếu muốn tu thoát khỏi vật chất thì chỉ có duy nhất một cách đó lên núi hoang dựng chùa mà thôi. 

Hôm đó là một ngày đầu tháng Bảy, giữa mùa hè trời đổ lửa. 

Sau khi thực hiện xong các nghi thức lễ tế cầu an, Ngọc Giai đến tìm cậu trong khu vườn sau chùa. Cậu đang ngồi chờ nàng trên ghế đá, trong lòng ôm một món quà nhỏ. 

Ngọc Giai ngồi xuống ghế, đặt xửng bánh bao xuống giữa hai người. Giọng nàng vẫn thanh nhẹ dịu mềm, nhưng rõ ràng là đang cố đè nén rất nhiều ưu tư, “Bằng Ca, có lẽ đây là lần cuối cùng em làm bánh bao cho anh ăn rồi. Lần này em làm nhiều một chút.”

Cậu không nói gì, cũng không quay sang nhìn nàng, chỉ hướng thẳng ánh mắt vào khoảng không phía trước. Cậu rất buồn. Nhưng cậu cũng biết là mình không được buồn. Người xuất gia, tương lai nương nhờ vào Phật, thì không được để tâm tính lấm tấm tình cảm của người phàm. 

Thấy cậu cứ im lặng, Ngọc Giai lại lên tiếng, “Hai ngày nữa em sẽ nhập cung Thái tử, bắt đầu học lễ nghi trước đại lễ thành hôn. Có lẽ sau này vẫn sẽ lên chùa Trấn Quốc bái Phật, nhưng sẽ không còn tiện để gặp riêng anh như thế này nữa.”

Cậu bất giác bật cười, “Cuối cùng em cũng chịu trưởng thành rồi. Em đáng ra không nên gặp riêng anh như thế này từ lâu lắm rồi.”

Ngọc Giai cong môi: “Chúng ta là trong sáng mà. Em không sợ người ngoài nhìn vào dị nghị, nhưng mà bây giờ em sắp thành Thái Tử Phi rồi…”

Nàng trầm giọng xuống, không nói hết câu.

Lòng cậu hụt hẫng và xót xa, nhưng giấu kỹ không để lộ ra mặt. Chúng ta là trong sáng mà…

Cậu đưa gói quà nhỏ tặng cho nàng, bên trong là chiếc khăn lụa màu xanh ngọc bích. Chẳng hiểu vì sao mỗi lần cậu nhớ đến nàng thì đều liên tưởng đến sắc màu này. Có lẽ, do lần đầu tiên hai người gặp gỡ, nàng đã mặc váy áo màu xanh ngọc bích, nên đối với cậu đây chính là màu sắc của sự sống. 

“Tặng cho em, chúc em trọn kiếp bình yên.”

Ngọc Giai mỉm cười dịu dàng, rồi chỉ sau một khoảnh khắc nụ cười biến màu chua chát, “Cám ơn anh. Cuộc sống sau này của em sẽ vì hai chữ “bình yên” này của anh mà cố gắng sống. Làm Thái Tử Phi, sau này làm Hoàng Hậu, tam cung lục viện sẽ có ba ngàn phi tần, đám người đó tất cả đều sẽ nhắm vào em mà thôi.”

“Đã biết vậy tại sao em lại còn muốn nhập cung Thái Tử?”

Cuối cùng cậu cũng nhìn thẳng vào cô, vô cùng thắc mắc. Đối với cậu, nàng luôn là một cô gái thanh thuần, nhưng có lẽ cậu đã để cho tình cảm che mờ đôi mắt sáng lý trí của mình rồi. 

Ngọc Giai cúi đầu, “Ở trong nhà, em nhiều lần nghe lén cha bàn chuyện, bọn họ đều nói rằng anh sớm muộn cũng sẽ trở thành trụ trì chùa Trấn Quốc. Người ta bảo anh có cốt Phật. Triều đình và chùa Trấn Quốc là quan hệ cộng sinh. Triều đình cần chùa để bình an lòng dân. Chùa cần triều đình để củng cố vị thế. Em làm mẫu nghi thiên hạ,sau này có thể làm chỗ dựa cho anh ở trong triều, phụ anh một tay cứu dân độ thế.Như vậy không tốt ư?”

Không tốt! Nhưng đã quá muộn, không thể quay đầu.

Hôm đó là đầu tháng Mười. Ngày lành tháng tốt. Tiết trời trong xanh mát mẻ. Cả kinh thành phủ kín sắc đỏ thắm tình. Hương gió cũng thơm mùi hỷ sự. Thái Tử nạp Thái Tử Phi. Thái Tử Phi xuất thân thiên kim tiểu thư phủ Hầu Gia, đài các phú quý, muôn phần xinh đẹp, là đóa mẫu đơn ngẩng cao đầu đón nắng.  

Khắp phố phường náo nhiệt tiếng pháo, tiếng trống chiêng, tiếng ca hát, tiếng nói cười. Từng con ngõ đều giăng đèn kết hoa, ánh sáng lung linh mê đắm.

Trong một gian phòng nhỏ tĩnh mịch ở góc chùa Trấn Quốc, bên ngọn nến con đang cần mẫn cháy, một tiểu tăng ngồi nhắm mắt và chậm rãi đọc kinh.

Tiếng lòng cậu bình thản và đều nhịp: “Em phải sống thật bình yên. Em phải sống thật bình yên. Em phải sống thật bình yên…”

TRẤN QUỐC

Ba năm trôi qua. 

Suốt ba năm, anh không gặp nàng. Những lần nàng đến chùa Trấn Quốc bái tế, anh đều viện cớ làm việc khác, không phục vụ trong đại điện. Nhưng tin tức của nàng anh đều hay tỏ. Nàng đã hạ sinh một tiểu vương tử kháu khỉnh. 

Anh cũng được phong một chức nhỏ trong chùa, được giao cai quản vài phần việc. Anh luôn niềm nở tiếp chuyện đám quan lại quý tộc mỗi khi bọn họ tìm tới mình, anh biết con đường trở thành trụ trì chùa Trấn Quốc sẽ nhanh gọn hơn với sự giúp đỡ, nói vào của bọn họ. 

Đến một buổi chiều. Khi anh đang ngồi trên chiếc ghế trong sân sau của chùa, vừa đọc kinh vừa nhìn những chiếc lá rơi, thì một chú tiểu hớt hải chạy đến, hổn hển báo tin: “Sư thúc ơi, trong triều xảy ra chuyện lớn rồi. Hầu Gia bị khép tội mưu phản tru di tam tộc. Thái Tử bức Thái Tử Phi treo cổ rồi.”

Cuốn kinh trong tay anh rơi bịch xuống đất cát. 

Hầu Gia đã ngấm ngầm bất mãn với Hoàng Đế từ lâu. Có lẽ mối quan hệ bằng mặt không bằng lòng ấy đã bắt đầu từ trước cả khi chuyện gia đình anh xảy ra. Trong triều, những lời khuyên của Hầu Gia thường bị Hoàng Đế bỏ ngoài tai. Hoàng Đế còn để Hầu Gia phải nhiều lần chịu nhục trước phe phái của bọn quan lại xu nịnh. Việc nạp Ngọc Giai vào phủ Thái Tử cũng chỉ là một nước cờ của cha con Hoàng Đế, dùng nàng làm con tin, ép Hầu Gia vì ái nữ mà ngoan ngoãn phục tùng. 

Nhưng Hầu Gia ôm chí lớn. Những tháng năm qua, ông đã bí mật nuôi quân trong doanh trại bên ngoài kinh thành. Vào đêm Tết Nguyên Tiêu, giữa những yến tiệc hoa lệ, nhóm quân tinh nhuệ ấy đã tiến vào hoàng cung nhằm ám sát cha con Hoàng Đế. Chỉ đáng tiếc rằng, trong nhóm quân ấy lại có gián điệp, hắn đã ngấm ngầm mật báo trước kế hoạch cho Hoàng Đế, khiến Hầu Gia lọt bẫy của chính mình. Giữa đại yến, Hầu Gia bị một đao chém chết. Thái Tử bức Thái Tử Phi treo cổ tự vẫn ngay trong đêm. Ngay cả đứa trẻ chưa tròn hai tuổi mang dòng máu của hoàng gia cũng bị ép chết theo mẹ và ông ngoại. 

Về lý, giữa Hoàng Đế và Hầu Gia, một tiểu sư phụ như anh không thể lựa chọn phe cánh. Người xuất gia không màng tranh đua của chốn hồng trần. Nhưng sư cũng là người. Và người dù nhắm mắt cũng vẫn nhìn thấy Hoàng Đế hoang dâm vô độ, nghe lời sàm tấu, bỏ mặc triều chính, thiên tai không lo, dân nạn không màng, chỉ thu sưu cao thuế nặng mà xây thêm cung điện chất gái đẹp.  

Về tình, anh căm giận Phật. Tại sao những người chính trực, vì nước quên mình như cha anh, như Hầu Gia lại có kết cục như thế? Tại sao Ngọc Giai ngây thơ và thấu hiểu lại phải tự kết liễu đời mình khi tuổi chưa tròn đôi mươi?

Trời đất không độ nàng. Phật không độ nàng. Thì chính anh sẽ độ nàng. 

Mười ba năm trôi qua theo những buổi tụng kinh gõ mõ.

Nay anh đã trở thành trụ trì chùa Trấn Quốc. Vị trụ trì trẻ nhất xưa nay. Trụ trì chỉ mới ngoài ba mươi tuổi. Nhưng những lời đồn đãi rằng anh là Phật hiện thân, những mối quan hệ sâu rộng của anh với tầng lớp tinh hoa vương giả của kinh thành khiến mọi sự không phục đều im bặt. 

Hoàng Đế đã già. Đại thọ bảy mươi vẫn lệnh cho các địa phương tiến cống mỹ nhân. Hàng ngày vẫn truyền cho sư sãi chùa Trấn Quốc cầu nguyện để mình được trường thọ. Mỗi tháng vài lần, Sư Trụ trì vẫn được vời vào cung trò chuyện trấn an Hoàng Đế rằng đức Phật đang rất phù hộ độ trì cho hoàng gia, rằng non sông vẫn sẽ thái bình yên ả.

Khi đêm về, thi thoảng có một bóng người mặc áo choàng đen âm thầm rời khỏi chùa Trấn Quốc theo lối cửa sau. Bóng đen đó đến một căn nhà nhỏ nằm giữa chợ trong kinh thành, nơi luôn có một nhóm người chờ sẵn. Cầm đầu nhóm người ấy chính là vị võ tướng tùy tùng của cha anh và Hầu Gia năm xưa, là người đã xốc anh lên lưng ngựa phi nước đại đến kinh thành, là người đã đỡ cho Hầu Gia một đao giữa đại điện nhưng lại không cứu được chủ nhân. Vị tướng ấy đã dùng hết sức lực cuối cùng để trốn chạy khỏi hoàng cung trong đêm Nguyên Tiêu đẫm máu đó. Nhất thời hèn nhát, nhưng ông biết nếu mình chết đi thì chẳng còn ai có thể báo thù cho hai vị chủ nhân.      

Có ai dám ngờ chính Sư trụ trì chùa Trấn Quốc lại tiếp tế rất nhiều vàng bạc để nuôi một đội phản quân ngày càng hùng mạnh. Có ai dám ngờ chính Sư trụ trì chùa Trấn Quốc lại là tác giả lời sấm truyền đang lan rộng trong nhân gian rằng sắp có một vị minh quân áo vải lên ngôi đem đến thái bình cho đất nước. Có ai dám ngờ chính Sư trụ trì chùa Trấn Quốc lại đã chọn ra một thanh niên con nhà nông nhưng giỏi võ hay chữ để ngồi lên ngai vàng. 

Đêm hôm đó. Một đêm rất bình thường. Một ngày chẳng đẹp chẳng xấu trên lịch. Từ chùa Trấn Quốc vang lên chín hồi chuông. Sư trụ trì xuất hiện trên bảo tháp, ban lệnh xuống cho thần dân rằng hãy yên lòng theo đoàn quân vừa tiến vào thành, vì đây là ý Phật, trong đoàn quân đó có đấng minh quân mà thiên hạ ngóng chờ đã lâu. Đoàn quân vì thế có thể tiến thẳng đến cổng hoàng cung chẳng gặp chút chống cự. 

Sư trụ trì chùa Trấn Quốc xông vào tẩm cung của Hoàng Đế, trên tay cầm con dao bằng vàng được Hầu Gia tặng năm xưa, một nhát cứa đứt cổ tên hôn quân đang bấu lấy tấm rèm vàng để che chắn thân mình. Con dao đã bao lần cứu mạng Hầu Gia sa trường đã hoàn thành sứ mệnh quan trọng nhất của nó là kết liễu cuộc đời kẻ thù lớn nhất của Hầu Gia.

Sư trụ trì chùa Trấn Quốc xông vào cung Thái Tử, dùng dải lụa màu xanh ngọc bích treo cổ tên Thái Tử già chỉ biết run rẩy xin tha mạng. Dải lụa đó, tì nữ thân tín của nàng đã trao lại cho anh sau khi nàng mất. Khi nhìn tên Thái Tử trợn mắt thoi thóp, lủng lẳng dưới xà nhà, nước mặn đã hoen khỏi khóe mắt anh. Thì ra năm đó, cảnh nàng chết trông giống như vậy. 

Bờ cát dài thoai thoải vạn dặm. Một con ngựa đen phi nước đại bên những ngọn sóng vỗ bờ. Vạt áo cà sa bay phần phật trong gió. Máu từ hai cái thủ cấp treo hai bên lưng ngựa nhỏ giọt thành hai vệt dài, thấm xuống cát rồi bị sóng liếm đi. 

Anh thúc nhẹ chân vào bụng ngựa, cho nó phi nhanh hơn. Anh phóng sâu vào màn đêm. Sau lưng anh là kinh thành đang rực lửa. Một triều đại đã kết thúc. Triều đại nào sẽ tiếp nối theo sau, anh không quan tâm nữa. Câu chuyện của anh ở chốn hồng trần này sắp chấm dứt rồi. Anh sẽ đem hai cái đầu của kẻ thù đến bái tế trước mộ cha mẹ, rồi sau đó anh sẽ tan vào thinh không. 

Anh ngẩng đầu nhìn một vệt mây xám đang lững thững trôi ngang qua ánh trăng. Ánh trăng khuyết như khuôn miệng nàng đang mỉm cười. 

Còn ngàn lời chưa nói, đành thả theo mây trôi…

PLOY

Leave a Reply

Your email address will not be published.

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.